Bàn về làm giàu từ ngữ tiếng Việt – phần 1.

08 Tháng Chín 20229:35 CH(Xem: 416)

              BÀN VỀ LÀM GIÀU TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT – PHẦN 1.

                  

images


Lê Bá Vận




Từ ngữ tiếng Việt hiện tại ngày càng phong phú đáp ứng được nhu cầu diễn đạt mọi khía cạnh của đời sống văn minh hiện đại. Có những yếu tố quan trọng quyết định cho các thành tựu ấy.

Bài viết “Bàn về làm giàu từ ngữ tiếng Việt” gồm 2 phần:

1) Các đặc điểm của từ ngữ tiếng Việt.

2) Các phương thức làm giàu từ ngữ tiếng Việt.

____

 

 

I) CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT.

 

Trong mọi ngôn ngữ, mỗi ‘từ’ (chữ, tiếng, word) được hình thành từ các âm tiết.

Âm tiết (syllable) là đơn vị phát âm ngắn nhất, thể hiện bởi một nguyên âm và các phụ âm đi kèm. Vd: ‘ong’ và ‘trong’ ở tiếng Việt, ‘on’ (trên) và ‘strong’ (khỏe) tiếng Anh.

Để làm tăng thêm số lượng ‘từ’, sự sắp xếp các âm tiết với nhau là giải pháp.

 

Có 2 cách tập hợp âm tiết, đều dễ dàng và thuận lợi ngang nhau.

 

   1) Tập hợp các âm tiết đứng chung, sát nhau để tạo những từ đơn mang nhiều âm tiết. Vd: ‘teacher’ (thầy giáo), ‘education’ (giáo dục) ở tiếng Anh. Tiếng Anh được gọi là ‘đa âm tiết’.

   2) Tập hợp các âm tiết đứng riêng, cạnh nhau để tạo những từ ‘phức’ (đa số là từ đôi). Vd: ‘thầy giáo’, ‘giáo dục’ ở tiếng Việt. Thầy giáo’ là một từ ‘phức’ do 2 từ đơn âm tiết ‘thầy’ và ‘giáo’ ghép chung. Tiếng Việt do đó được gọi là ‘đơn âm tiết’.

Cũng có khi từ Việt ngắn gọn hơn từ Anh, vd. ‘education’ với 4 âm tiết, ‘giáo dục’ chỉ hai.

 

Nhận xét :

1) Ghép các từ đơn đứng cạnh nhau để tạo từ phức là đặc điểm của tiếng Việt đơn âm tiết.

 Một số các nhà học giả gợi ý viết các âm tiết trong từ phức tiếng Việt dính liền nhau, ví dụ : “thầygiáo” và “độclập”. Điều này khiến ‘từ’ Việt có dạng đa âm tiết tương tự chữ viết Pinyin của Trung Quốc Latin hóa để chú âm các chữ Hán. Thí dụ : 老Lǎoshī = lão sư = thầy giáo. Nóngshì = nông sự = đồng áng. Chēliàng = xa lượng = xe cộ. Yuènán = Việt Nam.

  

2) Số lượng âm tiết của một ngôn ngữ là hữu hạn, song sự kết hợp giữa chúng để tạo ‘từ’ mới là bất tận. Thực tế, như ở Trung Quốc sở hữu số lượng 3.000 từ đơn cùng khoảng 15.000 từ phức liên quan đi kèm đã là tương đương trình độ một học sinh tốt nghiệp trung học bao gồm đủ các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà hàng ngày thường tiếp xúc.

Ở nước ta, sách Tam Thiên Tự dạy 3.000 chữ Hán do Ngô Thời Nhậm (1746-1803) soạn được xem là có rất nhiều chữ song đọc dễ nhớ vì soạn theo thể vè 4 chữ.

Theo từ điển mở Wikipedia thì có khoảng một nghìn từ tiếng Anh được gọi cơ bản để cho người ta có thể sử dụng trong các hoạt động thông thường.

 

 II) CÁC THUẬN LỢI LÀM GIÀU TIẾNG VIỆT. 

 

Có hai thuận lợi : 1) Sự linh động của văn phạm Việt. 2) Yếu Tố ‘từ’ Hán Việt.

 

                 1) Sự Linh Động Của Văn Phạm Tiếng Việt.

Văn phạm tiếng Việt đơn giản, mềm dẻo, uyển chuyển dung nạp được những sai phạm theo tiêu chuẩn thông thường.

 

       1.1) Nhiều câu có thể đọc xuôi hoặc ngược. “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” có thể đọc ngược : “Hoa chen lá, đá chen cây cỏ”.

Nhiều bài thơ thuộc loại ”Thuận nghịch độc”, đọc xuôi ngược đều được.

 

       1.2) Từ đôi được tạo dễ dàng, là đặc điểm và là nền tảng làm giàu từ ngữ mới. 

Có hai loại từ đôi : từ ghép và từ láy.

 

               1.2a) Từ ghép gồm : + ghép ‘chính chính’ (đẳng lập) và + ghép ‘chính phụ’.

 

+) Từ ghép ‘chính chính’ đồng loại, cùng là danh từ, tính từ hoặc động từ. Khá nhiều từ ghép ‘chính chính’ có thể đọc đảo ngược. Thí dụ: danh lợi (danh và lợi), thù hận, tranh đấu, núi rừng, củi lửa, chọn lựa, kết nối, vui buồn, kiêng cử…  Không đảo từ được, vd: đất nước, can đảm, thành bại, hiền từ, bạn hữu, sự việc...

 

Theo ngữ nghĩa có 3 trường hợp ghép chính chính:

--Ghép 2 từ đơn gần đồng nghĩa thì nhằm bổ sung nghĩa, vd: ngu ngốc, tập dượt, mồ mả.

--Ghép 2 từ đối nghĩa để tổng hợp mọi khả năng, tình huống, vd: ngày đêm, tốt xấu, ít nhiều.

--Chứa 2 từ có liên quan ngữ nghĩa là để khái quát hóa, vd: ăn ở, đồng ruộng, nhớ thương. Loại từ này đa dạng, ẩn dụ, vd: đất nước, non sông, búa rìu, sấm sét, trâu ngựa…

 

+) Từ ghép ‘chính phụ’, gồm một từ chính và một từ phụ, định tính. Thường không thể đọc đảo từ, vd: ăn mày, nhà chứa, máy bay, xe đò, cá lóc… lắm khi đảo từ làm khác nghĩa hẳn, vd: chịu khó/khó chịu, hạ thủ/thủ hạ, vi phạm/phạm vi...

 

Nhiệm Vụ Của Từ Ghép:

+) Từ ghép chính chính làm giàu tiếng Việt do cải tiến, là bước đi ngang mở rộng cách dùng, vd: đã có quy mô, quy tắc, quy củ, quy nạp v.v… nay thêm quy hoạch, quy kết, quy trình, quy chụp…

Tiếng Việt thêm chuẩn xác và hiệu quả trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.

 

+) Từ ghép chính phụ nhằm sáng tạo, vd: xe ôm, phượt thủ, triều cường…, nhằm dịch thuật, vd: vệ tinh (satellite), xa lộ (highway), siêu âm (ultrasound), nhất là dịch thuật ngữ các ngành khoa học, kỹ thuật, hoặc nhằm giới thiệu các sản phẩm mới như tủ lạnh, iPhone, lò vi ba, thang cuốn…

 

Về mặt thực tiễn từ ghép chính phụ là bước đi tới, khai phá, tích cực và thiết yếu.

Từ láy tả tình, tả cảnh có tính biểu cảm cao, đáng tiếc số lượng hầu như không tăng thêm.                                                                                 

   

           1.2b) Từ láy.

Từ đôi láy (gọi tắt là từ láy) đáp ứng 2 điều kiện sau:

     + Chứa ít nhất một từ vô nghĩa, vd: khỏe khoắn, luộm thuộm, bẽn lẽn.

     + Có yếu tố láy âm (điệp âm). Một từ, thông thường là từ đứng sau, lặp lại:

a) hoặc phụ âm đầu của từ đứng trước, vd: phụ âm ‘b’ trong bạc bẽo, buồn bã, bẽ bàng.

b) hoặc lặp lại vần âm sau, vd: vần ‘àu’ trong làu bàu, càu nhàu, bàu nhàu.

 

Trường hợp có nguyên âm đứng đầu từ: mọi nguyên âm được xem có thể láy với nhau.  

      + cả 2 từ đều bắt đầu bằng nguyên âm = là từ láy, vd: ỡm ờ, ấp úng, èo uột, ỉ ôi, ì ạch.

      + chỉ từ đầu bắt đầu bằng nguyên âm + láy đúng vần âm sau = là từ láy, vd: a ha, áy náy, ăn năn, ô rô (cây), ôi thôi, ung dung, úc núc...

      + chỉ từ đầu bắt đầu bằng nguyên âm + láy sai vấn âm sau = từ láy vớt, láy biến âm, không hoàn chỉnh? vd: âm thầm, eo sèo, ê chề, ê hề, êm đềm, ủ rũ, um tùm…

 

Ngoài ra nếu từ láy có chứa các dấu ‘hỏi’ và ‘ngã’ thì có thể sử dụng luật “sắc không hỏi” - “huyền ngã nặng” giúp xác định dấu hỏi ngã của từ. Thí dụ: nghỉ ngơi và nghĩ ngợi.

 

Có trường hợp gây nhiều tranh cãi: chỉ có từ vô nghĩa, không có yếu tố láy, vd: đồng áng, phân bua, góa bụa, già nua, búa xua, bếp núc, giàu sụ – từ chưa rõ gốc, là từ cổ? là chính chính?

 

Chú ý: Các từ đôi ‘cuồn cuộn, thăm thẳm, đo đỏ, bươm bướm’… chỉ láy phụ âm đầu. Các từ đôi ‘rưng rưng, làu làu, kè kè’… là những điệp từ = láy từ (phân biệt với từ láy là điệp âm).         

 

Có từ điển từ láy. Tổng số từ láy là trên 2500, rất phong phú, có các đặc điểm sau:

a) Từ láy phụ âm đầu chiếm đại đa số và đa số các từ thành phần khác vần bằng trắc, vd: bền bĩ, giữ gìn, ngọt ngào, vui vẻ... (*).

b) Từ láy vần âm sau có số lượng khoảng 60 và các từ thành phần luôn cùng vần bằng trắc, vd: bơ vơ, chờn vờn, lác đác, tỉ mỉ (chủ yếu các chữ b, l, t, ch).

c) Từ láy có nguyên âm đứng đầu từ có số lượng khoảng 60, vd: inh ỏi, im lìm...

Tất cả đều không thể đọc đảo ngược ngoại trừ chỉ một hai chục từ năng dùng thuộc loại láy phụ âm đầu: bề bộn, dở dang, đau đớn, giữ gìn, hững hờ, lai láng, lửng lơ, lững lờ, mịt mờ, mù mịt, ngạt ngào, tả tơi, tha thiết, thẫn thờ, thơ thẩn, thướt tha, vấn vương, xác xơ, xạc xờ…     

 

Các từ Hán Việt cũng có khả năng tạo từ đôi láy: bạc bẽo, biền biệt, dả, đãi đằng, hãi hùng, hậu hĩnh/hĩ, hiểm hóc, khách khứa, kỳ quặc, lạc lõng, mẩn, mỹ miều, não nề/nùng/nuột, ngại ngùng, ngạo nghễ, nghiệt ngã/ngõng, nhã nhặn, nhục nhã, quá quắt, tập tành, tằn tiện, thực thà, tiện tặn, tục tằn/tĩu, túy lúy,…

 

Sự đọc đảo ngược rất hữu ích trong thi văn, để gieo đúng vần.

Thí dụ: “Trăng ngập dòng sông chảy láng lai”- Hàn Mặc Tử.

 

       1.3) Sử dụng danh từ thành động từ hoặc tính từ.

Thí dụ: Cô rất thần tượng cha cô. Rất ấn tượng cô giáo.

Gia đình cô rất hoàn cảnh, nét mặt tâm trạng, hình sự, một biệt thự rất đẳng cấp…

Tương tự ‘danh giá’ là danh từ trong ‘danh giá gia đình’, tính từ trong ‘gia đình danh giá’.

Có khi như `yêu cầu`, ngược lại, động từ thành danh từ.

 

Văn phạm Việt thích hợp với ngữ pháp `lặp từ’, viết thêm từ đồng nghĩa cho có đôi, vd: chửi rủa, hủy bỏ, bạn hữu, đều đều, lâng lâng, xanh xanh. Hoặc giả ‘ngày sinh nhật’, ‘người công nhân’. Thông thường người ta nói: ‘vụ này’ hoặc ‘việc này’, bây giờ thì luôn nghe ‘vụ việc’ này.

Chữ Hán ’vụ’ = việc, vd : công vụ. Chữ ‘sự việc’ cũng năng được dùng. ‘Sự’ 事 = việc.

 

Tuy vậy ngữ pháp điệp từ (điệp=trùng lặp) này tiếng Anh gọi là ‘redundancy’ hoặc ‘pleonasm’ rườm rà theo họ nên tránh vì thêm yểu tố thừa không cần thiết (needless repetition). Tiếng Anh nói: ‘return back, repeat again, new innovation…’ thì các chữ: ‘back=lui, again=lại, new=mới’ là thừa vì ‘return’ đã có nghĩa trả lui, ‘repeat’ đã có nghĩa nói lại, ‘innovation’ đã có nghĩa đổi mới.

Tiếng Việt có thể nói ’dư thừa’ dù dư=thừa và cũng có thể sử dụng từ láy: dư dả, thừa thãi.

 

       1.4) Văn phạm uyển chuyển lắm lúc gây tình trạng lẫn lộn.

Áo ấm = áo lạnh/rét (giữ ấm chống rét), đánh thắng = đánh bại (ta thắng địch bại), giảm bớt = giảm thêm (bớt lại, giảm thêm), thấp bớt = thấp thêm, gầy bớt = gầy thêm, mở điện = đóng điện, nên dùng mở và tắt, tiếng Việt bỏ dấu = thêm dấu, nín thinh = làm thinh (làm sự nín thinh). ‘Cặp đôi’ vợ chồng = cặp vợ chông (cặp=đôi là từ đồng nghĩa lặp lại).  

 

Hoặc nói tắt: “quyết” thay thế ‘quyết định’ , “quản” thay thế ‘quản lý’, “phí” là “lệ phí”, tiền “tuất” là tiền ‘tử tuất’, người “lịch” = ‘lịch lãm’, “căng” = căng thẳng, “tuyển” VN = đội tuyển VN, “trao đổi” = trao đổi ý kiến, bà “chăm” ông = chăm nuôi…

 

 

                2) Yếu Tố Từ Hán Việt Trong Tiếng Việt.

Chúng ta xét 1) các đặc điểm, 2) vai trò các từ Hán Việt.

 

      2.1) Các Đặc Điểm Của Từ Hán Việt.

             2.1a) Theo Hán ngữ đại tự điển thì số lượng chữ Hán đơn là trên 56.000.

Tiếng Việt cho nhập tịch khoảng 5.000 ‘từ’ Hán (gần 1/10 tổng số) và hoán cải theo âm Việt. Đó là những từ Hán Việt, trong số đó chỉ khoảng 1.000 từ là thực sự thông thường được dùng. 

 

Trong tiếng Việt hiện nay, từ vựng Hán Việt chiếm khoảng 70%, còn lại 30% là từ thuần Việt, tuy ít hơn nhưng luôn dùng.

 

Từ thuần Việt chiếm tỷ lệ trên 90% trong giao tiếp chuyện trò hàng ngày, kịch nói, trên 85% trong các tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, hồi ký… Từ đơn thường được dùng.

Trong bốn câu đầu của truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi…” chỉ có 2 từ Hán Việt (tài mệnh).

Bài thơ ‘Bánh Trôi Nước’ 28 chữ của Hồ Xuân Hương chỉ có một từ Hán Việt (Thân em).

 

Từ Hán Việt ngược lại chiếm khoảng trên dưới 70% ở các công trình biên khảo khoa học, kỹ thuật, kinh tế, nghệ thuật, triết, văn, tôn, chính trị, quân sự… cần sử dụng các danh từ trừu tượng thường thiếu sót trong tiếng Thuần Việt. Từ đôi là thông dụng.                   

 

             2.1b) Nhiều từ đơn Hán Việt trùng với từ Thuần Việt (từ Nôm) nên có thể đứng riêng lẻ, vd: thần, thánh, đông, tây, học, hoãn, ác, hung, tạo, tại… Song đa số đứng thành cặp, đôi ba (từ phức) vd: bảo đảm, can đảm, phong trần, kết liễu, câu lạc bộ… Chữ Hán ít âm tiết, đa nghĩa, đoán được nghĩa là khó. Nếu chúng đứng cụm đôi, ba với nhau thì dễ nhận diện.

 

             2.1c) Các bất đồng giữa từ ngữ Việt, Trung:

+Khác lời – Tiếng Việt nói: “ca sĩ, thi sĩ, họa sĩ, văn sĩ (nhà văn), phi công, tài xế…” thì tiếng Trung nói: ca thủ, thi nhân, họa gia, tác gia, phi hành viên, tư cơ (tư=điều khiển).

 

+Khác nghĩa -- Tiếng Trung “khôi ngô” là nở nang, to tát, thì tiếng Việt có nghĩa nam nhi mặt mày sáng suả đẹp đẽ. “Đinh ninh” là dặn dò thì tiếng Việt hiểu là tin chắc. “Bần tiện” là nghèo hèn thì tiếng Việt hiểu trệch ra là keo kiệt, thù vặt, kém nhân phẩm. “Tử tế” là tỉ mỉ, cẩn thận, tằn tiện thì tiếng Việt có nghĩa xử sự tốt. “Khốn nạn” là rắc rối, khó khăn thì tiếng Việt có nghĩa hèn mạt, đáng khinh. “Vấn nạn” là hỏi vặn thì tiếng Việt dùng với nghĩa vấn đề khó khăn, nan đề…

Các thí dụ rất nhiều nên chẳng để tâm làm gì, chữ nghĩa của ai nấy dùng.

 

      2.2) Vai Trò Các Từ Hán Việt.

Tiếng Việt hưởng lợi sở hữu 2 tài sản ngôn ngữ. Đó là tiếng Thuần Việt (Nôm) và tiếng Hán Việt khiến nhiều sự việc được diễn tả theo hai cách, bình thường mộc mạc hoặc văn vẻ kiểu cách. Có thể nói, viết: người đẹp hoặc ‘mỹ nhân’, giúp đỡ hoặc ‘hỗ trợ’, giàu sang hoặc ‘phú quý’, yêu nước hoặc ‘ái quốc’, chia buồn hoặc ‘phân ưu’, qua đời hoặc ‘tạ thế’, dùng hoặc ‘sử dụng’, có hoặc ‘sở hữu’,  phần lớn hoặc ‘đa số’, vùng biển hoặc ‘hải phận’.…

 

Tuy nhiên có trường hợp tiếng Nôm bất túc, để diễn tả phải dùng ‘từ’ Hán Việt, văn vẻ.

Thí dụ: anh hùng, bổn phận, danh dự, thông minh, công lao, khuyến khích…

Ngược lại có nhiều tiếng Trung bình dị trong sinh hoạt hàng ngày thì xa lạ với tiếng Việt.

Thí dụ : bồ đào=nho, bình quả=táo, thái=rau, nãi=sữa, bính=bánh, trác tử=cái bàn, ma tước=chim sẻ, mã nghị=con kiến, chiếu tướng=chụp ảnh, lý phát=hớt tóc…

Cũng như các từ ngữ chưa hề được nghe: khảo lự, phủ tuất, thủ giản, dao khống, để cảo…

 

Theo loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song trong thực tế cấu trúc từ phức lại là chủ đạo. Tiếng Việt đã thành hình hiếm khi bổ sung từ đơn mới song vẫn đều đặn tạo từ phức.

 

--Từ phức, có thể thuần Việt, vd: thóc lúa, cày cấy, chia sẻ, đùm bọc, ghen ghét, cay đắng…

--Có thể Hán Việt, vd: bình đẳng, đoàn kết, tổ quốc, lạc quan, khả năng, tục huyền…

--Có thể hỗn từ (hỗn=trộn lẫn), vd: binh lính, bụi trần, da liễu, đơn chiếc, hiểm nghèo, học trò, bói toán, bồi đắp, chi trả, nuôi dưỡng, quê hương, thoái lui, sức lực, mùi vị, sự việc, tài giỏi, tiễn đưa, tụ họp, tuyển chọn, vi tính, vi sóng, xét xử, xương cốt, yến tiệc… Và linh tinh gần đây, in ấn, đạo nhái, siêu bền, chỉnh sửa, quốc giỗ, quy chụp,  khai màn (khai mạc), di dời, vụ việc, hấp hôn, trải nghiệm, (từ gốc Hán được gạch dưới). 

Các hỗn từ thể hiện sự phối hợp hữu ích, thông dụng và tinh xảo giữa từ Nôm và từ Hán.

 

Các từ Hán Việt giúp làm tăng từ một lên 3 lần khả năng tạo từ đôi mới trong tiếng Việt.

 

Có những từ Hán Việt thuộc loại rất khó, ít sử dụng, vd: ‘lân tuất’, ‘trừ tịch’, ‘bỉ sắc tư phong’, phải được chú thích nghĩa. Nhiều từ khác, năng gặp hơn, vd: ‘kỳ phùng địch thủ’, bạn ‘cố tri’, người ‘tâm phúc’, người ‘thục nữ’, ‘thiên kiều bá mị’.  

Tất nhiên mọi người đều dễ dàng hiểu nghĩa các từ phức ấy, lắm khi ngỡ là tiếng thuần Việt. Đại khái kỳ phùng địch thủ = kẻ ngang tài, bạn cố tri = bạn quen cũ, người tâm phúc = người tin cẩn, thục nữ = người đàn bà đức hạnh, thiên kiều bá mị = xinh đẹp tuyệt vời.

 

Song chỉ những ai nắm được nghĩa của mỗi từ đơn Hán Việt, vd: ‘kỳ’= đánh cờ, phùng= gặp, cố= xưa, tri = biết, tâm = tim, ‘phúc’= bụng, thục = hiền lành v.v… thì từ đó mới có thể thao tác chúng để tạo thêm từ phức khác. Thí dụ đã có ‘tọa cụ’ của các thiền sư, lại đặt thêm từ ‘ngọa cụ’.

Chữ cụ具jù = đồ dùng vốn đã cung cấp cho tiếng Việt hàng loạt từ đôi thông dụng: cụ thể, dụng cụ, công cụ, khí cụ, nhạc cụ, họa cụ, cụ bị, nông cụ, học cụ, hình cụ, gia cụ, quân cụ, y cụ, đạo cụ… 
 
Có nhiều biện pháp tu từ để làm giàu từ ngữ tiếng Việt. (xem tiếp, Phần 2).

 
Chú Thích. 
 
(*) Các từ láy ‘khù khờ, rắc rối, ngao ngán, nhút nhát, (láy phụ âm đầu), bàu nhàu, lom khom, tờ mờ (láy vần âm sau)’… do từ đứng trước là vô nghĩa nên láy âm theo từ đứng sau có nghĩa.  
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Chín 2022
Việc chênh lệch giá vàng nguyên liệu đến 13% sẽ là một thị trường béo bở cho buôn lậu. Ngày 29 Tháng Chín vừa qua ông Tô Ân Xô, phát ngôn Bộ Công an cho biết, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03 Bộ Công an) đã triệt phá đường dây này đã nhập lậu 198 kg vàng, thu 103 kg vàng, hơn 2,8 triệu USD và 26,7 tỷ đồng. Đây chỉ là phần nổi của tảng băng, với sự hấp dẫn về mức chênh lệch giá như thế, không ít doanh nghiệp kinh doanh vàng trá hình làm giàu bằng buôn lậu.
28 Tháng Chín 2022
Nói cách khác, khác với thiên hạ, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là một thứ họa cho khoa học xã hội Việt Nam. Thiên hạ đã tỏ tường từ lâu về chuyện một… Viện Hàn lâm tự biến thành… “lò ấp tiến sĩ” nhưng ngẫm kỹ thì đó là chuyện tất nhiên! Trừ Việt Nam, làm gì có Viện Hàn lâm nào trên thế giới có những bộ phận như… Ban Tổ chức Đảng ủy, Ban Dân Vận Đảng ủy, Ban Kiểm tra Đảng ủy, Ban Tuyên giáo Đảng ủy,… Phải đứng đầu các ban này mới được tham gia đội ngũ lãnh đạo Viện Hàn lâm và nay cùng bị kỷ luật!
27 Tháng Chín 2022
Là thành viên Liên Hiệp Quốc, Cộng hòa XHCN Việt Nam nhiều lần cam kết tôn trọng và thực thi Công ước về các quyền dân sự và chính trị (9), Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (10). Theo những công ước này thì dù có tước đoạt tự do của phạm nhân thì họ vẫn phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người. Cộng đồng quốc tế đồng thanh xác định: Việc cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người kể cả nhằm trừng phạt người đó vì...
27 Tháng Chín 2022
Sau khi chạy thoát khỏi chế độ CS năm 1975, trong một cuộc phỏng vấn nhân một buổi trình diễn, bà Khánh Ly tuyên bố sẽ không bao giờ trở về VN để cất tiếng hát khi chế độ CS còn tồn tại trên đất nước. Đây chính là câu nói gây “bức xúc” nhất đối với chế độ, câu nói này cũng gây khó chịu cho chính bản thân bà Khánh Ly không ít. Không có câu nói này việc trở về VN Hát Cho Đồng Bào Tôi Nghe chắc không đến nỗi nhiêu khê, trắc trở như đã xẩy ra cho Khánh Ly nhưng đó cũng không phải là lý do chính. Lý do chính là CSVN sợ hãi ảnh hưởng tiếng hát của bà, lời nhạc...
26 Tháng Chín 2022
Ngày 25 Tháng Chín, báo Vneconomy cho biết, Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế đã thu hồi 13 loại thuốc chứa Methylprednisolone do được sản xuất từ nguyên liệu bị giả mạo. Thuốc nhập lậu cũng giả, thuốc nhập có giấy phép cũng giả, giờ thuốc sản xuất trong nước cũng từ nguyên liệu giả. Vậy không biết người dân dùng thuốc nào là thật đây? Tôi tự hỏi liệu Bộ Y tế có làm công tác quản lý hay không hay là thả nổi và thậm chí có tiếp tay? Xây bệnh viện rồi bỏ hoang, thuốc chữa bệnh thì giả, y đức thì xuống cấp, nhân viên y tế chân chính thì bị chèn ép đến nghỉ việc. Vậy thì còn ai tin tưởng ngành y Việt Nam nữa?
24 Tháng Chín 2022
Chi phí nghiên cứu và phát triển thấp thì hoàn toàn có thể chi thêm, tuy nhiên tính liêm chính khoa học kém cỏi thì vô phương cứu chữa. Cho nên, cái gốc là trị cho được chữ “ngụy” vốn đã ăn vào máu người Cộng Sản và nhiễm quá sâu vào mọi tầng lới xã hội của đất nước này. Cộng Sản họ chụp mũ cho một thể chế cũ là “ngụy” nhưng chính họ chứ không ai khác đã nuôi chữ “ngụy” phát triển lớn đến mức không thể diệt được nữa rồi.
22 Tháng Chín 2022
Thượng đế sinh ra loài người là một loài động vật cao cấp, họ có bộ não để suy nghĩ, họ có tôn giáo để răn dạy đúng sai, sự thật và lẽ phải, nhưng trong quốc gia csVN, những điều đó không quan trọng, không được công nhận ngoài những truyền thuyết về lãnh tụ, về đảng cộng sản, sự thật sẽ được bẻ cong theo ý đồ của những người viết Sử đảng, cho nên đất nước VN chỉ còn một dân tộc ngu dân, duy ý chí, nếu có ai nói lên sự thật để phản bác những gì ban tuyên giáo đảng tuyên truyền thì ngay lập tức sẽ bị khép tội danh:”phản động, thù địch, chống phá và những tội danh...
22 Tháng Chín 2022
Năm 2016 là vụ nước mắm Arsen. Báo Thanh Niên bất ngờ cho đăng loạt bài về mối nguy hiểm của Arsen. Tiếp theo là hàng loạt KOLs viết bài về mối nguy của thạch tín (tức là Arsen) và lo ngại về nước mắm truyền thống để gây hoang mang dư luận. Sau đó là Hội khoa học và Kỹ thuật về Tiêu chuẩn và Chất lượng Việt Nam – Vinastas vào cuộc lấy hàu hết các mẫu nước mắm kiểm tra và công bố có đến 67% mẫu bị nhiễm Arsen vượt ngưỡng. Và song song với sự khủng hoảng niềm tin xã hội vào nước mắm truyền thống, Masan tung nước mắm công nghiệp không có thạch tín...
21 Tháng Chín 2022
Chỉ trích, phê phán đảng Cộng Hòa Mỹ, đòi hỏi phải thay đổi Tu Chính Án (2nd Amendment) về luật sở hữu vũ khí, đấu tranh ngoài đời hay lên tiếng trên mạng xã hội để thay đổi điều kiện làm việc, môi trường...cho tốt đẹp hơn là đúng, nhưng so sánh chuyện nạn nhân chết vì vũ khí với sự vô trách nhiệm của chế độ CSVN về số người chết, bị thương do tai nạn giao thông gây ra rồi miệt thị đất nước đã cho mình cuộc sống ngày hôm nay là bất lương.
19 Tháng Chín 2022
Việt Nam đang là quốc gia Cộng Sản nhưng nếu ngã về Mỹ trong thế giới lưỡng cực ở tương lai là hoàn toàn có thể. Mỹ không còn xem trọng ý thức hệ trong quan hệ của họ nữa. Có lẽ Đảng Cộng Sản cũng cần can đảm làm những điều thoáng hơn thế hệ cổ hủ đã từng làm. Không biết những lãnh đạo tương lai của Đảng Cộng Sản họ có hiểu câu nói “không có kẻ thù mãi mãi, không có bạn bè mãi mãi, chỉ có quyền lợi quốc gia là trên hết” hay không, hay là vẫn nô lệ một chủ thuyết hoang tưởng?