Bàn về làm giàu từ ngữ tiếng Việt – phần 1.

08 Tháng Chín 20229:35 CH(Xem: 629)

              BÀN VỀ LÀM GIÀU TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT – PHẦN 1.

                  

images


Lê Bá Vận




Từ ngữ tiếng Việt hiện tại ngày càng phong phú đáp ứng được nhu cầu diễn đạt mọi khía cạnh của đời sống văn minh hiện đại. Có những yếu tố quan trọng quyết định cho các thành tựu ấy.

Bài viết “Bàn về làm giàu từ ngữ tiếng Việt” gồm 2 phần:

1) Các đặc điểm của từ ngữ tiếng Việt.

2) Các phương thức làm giàu từ ngữ tiếng Việt.

____

 

 

I) CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT.

 

Trong mọi ngôn ngữ, mỗi ‘từ’ (chữ, tiếng, word) được hình thành từ các âm tiết.

Âm tiết (syllable) là đơn vị phát âm ngắn nhất, thể hiện bởi một nguyên âm và các phụ âm đi kèm. Vd: ‘ong’ và ‘trong’ ở tiếng Việt, ‘on’ (trên) và ‘strong’ (khỏe) tiếng Anh.

Để làm tăng thêm số lượng ‘từ’, sự sắp xếp các âm tiết với nhau là giải pháp.

 

Có 2 cách tập hợp âm tiết, đều dễ dàng và thuận lợi ngang nhau.

 

   1) Tập hợp các âm tiết đứng chung, sát nhau để tạo những từ đơn mang nhiều âm tiết. Vd: ‘teacher’ (thầy giáo), ‘education’ (giáo dục) ở tiếng Anh. Tiếng Anh được gọi là ‘đa âm tiết’.

   2) Tập hợp các âm tiết đứng riêng, cạnh nhau để tạo những từ ‘phức’ (đa số là từ đôi). Vd: ‘thầy giáo’, ‘giáo dục’ ở tiếng Việt. Thầy giáo’ là một từ ‘phức’ do 2 từ đơn âm tiết ‘thầy’ và ‘giáo’ ghép chung. Tiếng Việt do đó được gọi là ‘đơn âm tiết’.

Cũng có khi từ Việt ngắn gọn hơn từ Anh, vd. ‘education’ với 4 âm tiết, ‘giáo dục’ chỉ hai.

 

Nhận xét :

1) Ghép các từ đơn đứng cạnh nhau để tạo từ phức là đặc điểm của tiếng Việt đơn âm tiết.

 Một số các nhà học giả gợi ý viết các âm tiết trong từ phức tiếng Việt dính liền nhau, ví dụ : “thầygiáo” và “độclập”. Điều này khiến ‘từ’ Việt có dạng đa âm tiết tương tự chữ viết Pinyin của Trung Quốc Latin hóa để chú âm các chữ Hán. Thí dụ : 老Lǎoshī = lão sư = thầy giáo. Nóngshì = nông sự = đồng áng. Chēliàng = xa lượng = xe cộ. Yuènán = Việt Nam.

  

2) Số lượng âm tiết của một ngôn ngữ là hữu hạn, song sự kết hợp giữa chúng để tạo ‘từ’ mới là bất tận. Thực tế, như ở Trung Quốc sở hữu số lượng 3.000 từ đơn cùng khoảng 15.000 từ phức liên quan đi kèm đã là tương đương trình độ một học sinh tốt nghiệp trung học bao gồm đủ các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà hàng ngày thường tiếp xúc.

Ở nước ta, sách Tam Thiên Tự dạy 3.000 chữ Hán do Ngô Thời Nhậm (1746-1803) soạn được xem là có rất nhiều chữ song đọc dễ nhớ vì soạn theo thể vè 4 chữ.

Theo từ điển mở Wikipedia thì có khoảng một nghìn từ tiếng Anh được gọi cơ bản để cho người ta có thể sử dụng trong các hoạt động thông thường.

 

 II) CÁC THUẬN LỢI LÀM GIÀU TIẾNG VIỆT. 

 

Có hai thuận lợi : 1) Sự linh động của văn phạm Việt. 2) Yếu Tố ‘từ’ Hán Việt.

 

                 1) Sự Linh Động Của Văn Phạm Tiếng Việt.

Văn phạm tiếng Việt đơn giản, mềm dẻo, uyển chuyển dung nạp được những sai phạm theo tiêu chuẩn thông thường.

 

       1.1) Nhiều câu có thể đọc xuôi hoặc ngược. “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” có thể đọc ngược : “Hoa chen lá, đá chen cây cỏ”.

Nhiều bài thơ thuộc loại ”Thuận nghịch độc”, đọc xuôi ngược đều được.

 

       1.2) Từ đôi được tạo dễ dàng, là đặc điểm và là nền tảng làm giàu từ ngữ mới. 

Có hai loại từ đôi : từ ghép và từ láy.

 

               1.2a) Từ ghép gồm : + ghép ‘chính chính’ (đẳng lập) và + ghép ‘chính phụ’.

 

+) Từ ghép ‘chính chính’ đồng loại, cùng là danh từ, tính từ hoặc động từ. Khá nhiều từ ghép ‘chính chính’ có thể đọc đảo ngược. Thí dụ: danh lợi (danh và lợi), thù hận, tranh đấu, núi rừng, củi lửa, chọn lựa, kết nối, vui buồn, kiêng cử…  Không đảo từ được, vd: đất nước, can đảm, thành bại, hiền từ, bạn hữu, sự việc...

 

Theo ngữ nghĩa có 3 trường hợp ghép chính chính:

--Ghép 2 từ đơn gần đồng nghĩa thì nhằm bổ sung nghĩa, vd: ngu ngốc, tập dượt, mồ mả.

--Ghép 2 từ đối nghĩa để tổng hợp mọi khả năng, tình huống, vd: ngày đêm, tốt xấu, ít nhiều.

--Chứa 2 từ có liên quan ngữ nghĩa là để khái quát hóa, vd: ăn ở, đồng ruộng, nhớ thương. Loại từ này đa dạng, ẩn dụ, vd: đất nước, non sông, búa rìu, sấm sét, trâu ngựa…

 

+) Từ ghép ‘chính phụ’, gồm một từ chính và một từ phụ, định tính. Thường không thể đọc đảo từ, vd: ăn mày, nhà chứa, máy bay, xe đò, cá lóc… lắm khi đảo từ làm khác nghĩa hẳn, vd: chịu khó/khó chịu, hạ thủ/thủ hạ, vi phạm/phạm vi...

 

Nhiệm Vụ Của Từ Ghép:

+) Từ ghép chính chính làm giàu tiếng Việt do cải tiến, là bước đi ngang mở rộng cách dùng, vd: đã có quy mô, quy tắc, quy củ, quy nạp v.v… nay thêm quy hoạch, quy kết, quy trình, quy chụp…

Tiếng Việt thêm chuẩn xác và hiệu quả trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.

 

+) Từ ghép chính phụ nhằm sáng tạo, vd: xe ôm, phượt thủ, triều cường…, nhằm dịch thuật, vd: vệ tinh (satellite), xa lộ (highway), siêu âm (ultrasound), nhất là dịch thuật ngữ các ngành khoa học, kỹ thuật, hoặc nhằm giới thiệu các sản phẩm mới như tủ lạnh, iPhone, lò vi ba, thang cuốn…

 

Về mặt thực tiễn từ ghép chính phụ là bước đi tới, khai phá, tích cực và thiết yếu.

Từ láy tả tình, tả cảnh có tính biểu cảm cao, đáng tiếc số lượng hầu như không tăng thêm.                                                                                 

   

           1.2b) Từ láy.

Từ đôi láy (gọi tắt là từ láy) đáp ứng 2 điều kiện sau:

     + Chứa ít nhất một từ vô nghĩa, vd: khỏe khoắn, luộm thuộm, bẽn lẽn.

     + Có yếu tố láy âm (điệp âm). Một từ, thông thường là từ đứng sau, lặp lại:

a) hoặc phụ âm đầu của từ đứng trước, vd: phụ âm ‘b’ trong bạc bẽo, buồn bã, bẽ bàng.

b) hoặc lặp lại vần âm sau, vd: vần ‘àu’ trong làu bàu, càu nhàu, bàu nhàu.

 

Trường hợp có nguyên âm đứng đầu từ: mọi nguyên âm được xem có thể láy với nhau.  

      + cả 2 từ đều bắt đầu bằng nguyên âm = là từ láy, vd: ỡm ờ, ấp úng, èo uột, ỉ ôi, ì ạch.

      + chỉ từ đầu bắt đầu bằng nguyên âm + láy đúng vần âm sau = là từ láy, vd: a ha, áy náy, ăn năn, ô rô (cây), ôi thôi, ung dung, úc núc...

      + chỉ từ đầu bắt đầu bằng nguyên âm + láy sai vấn âm sau = từ láy vớt, láy biến âm, không hoàn chỉnh? vd: âm thầm, eo sèo, ê chề, ê hề, êm đềm, ủ rũ, um tùm…

 

Ngoài ra nếu từ láy có chứa các dấu ‘hỏi’ và ‘ngã’ thì có thể sử dụng luật “sắc không hỏi” - “huyền ngã nặng” giúp xác định dấu hỏi ngã của từ. Thí dụ: nghỉ ngơi và nghĩ ngợi.

 

Có trường hợp gây nhiều tranh cãi: chỉ có từ vô nghĩa, không có yếu tố láy, vd: đồng áng, phân bua, góa bụa, già nua, búa xua, bếp núc, giàu sụ – từ chưa rõ gốc, là từ cổ? là chính chính?

 

Chú ý: Các từ đôi ‘cuồn cuộn, thăm thẳm, đo đỏ, bươm bướm’… chỉ láy phụ âm đầu. Các từ đôi ‘rưng rưng, làu làu, kè kè’… là những điệp từ = láy từ (phân biệt với từ láy là điệp âm).         

 

Có từ điển từ láy. Tổng số từ láy là trên 2500, rất phong phú, có các đặc điểm sau:

a) Từ láy phụ âm đầu chiếm đại đa số và đa số các từ thành phần khác vần bằng trắc, vd: bền bĩ, giữ gìn, ngọt ngào, vui vẻ... (*).

b) Từ láy vần âm sau có số lượng khoảng 60 và các từ thành phần luôn cùng vần bằng trắc, vd: bơ vơ, chờn vờn, lác đác, tỉ mỉ (chủ yếu các chữ b, l, t, ch).

c) Từ láy có nguyên âm đứng đầu từ có số lượng khoảng 60, vd: inh ỏi, im lìm...

Tất cả đều không thể đọc đảo ngược ngoại trừ chỉ một hai chục từ năng dùng thuộc loại láy phụ âm đầu: bề bộn, dở dang, đau đớn, giữ gìn, hững hờ, lai láng, lửng lơ, lững lờ, mịt mờ, mù mịt, ngạt ngào, tả tơi, tha thiết, thẫn thờ, thơ thẩn, thướt tha, vấn vương, xác xơ, xạc xờ…     

 

Các từ Hán Việt cũng có khả năng tạo từ đôi láy: bạc bẽo, biền biệt, dả, đãi đằng, hãi hùng, hậu hĩnh/hĩ, hiểm hóc, khách khứa, kỳ quặc, lạc lõng, mẩn, mỹ miều, não nề/nùng/nuột, ngại ngùng, ngạo nghễ, nghiệt ngã/ngõng, nhã nhặn, nhục nhã, quá quắt, tập tành, tằn tiện, thực thà, tiện tặn, tục tằn/tĩu, túy lúy,…

 

Sự đọc đảo ngược rất hữu ích trong thi văn, để gieo đúng vần.

Thí dụ: “Trăng ngập dòng sông chảy láng lai”- Hàn Mặc Tử.

 

       1.3) Sử dụng danh từ thành động từ hoặc tính từ.

Thí dụ: Cô rất thần tượng cha cô. Rất ấn tượng cô giáo.

Gia đình cô rất hoàn cảnh, nét mặt tâm trạng, hình sự, một biệt thự rất đẳng cấp…

Tương tự ‘danh giá’ là danh từ trong ‘danh giá gia đình’, tính từ trong ‘gia đình danh giá’.

Có khi như `yêu cầu`, ngược lại, động từ thành danh từ.

 

Văn phạm Việt thích hợp với ngữ pháp `lặp từ’, viết thêm từ đồng nghĩa cho có đôi, vd: chửi rủa, hủy bỏ, bạn hữu, đều đều, lâng lâng, xanh xanh. Hoặc giả ‘ngày sinh nhật’, ‘người công nhân’. Thông thường người ta nói: ‘vụ này’ hoặc ‘việc này’, bây giờ thì luôn nghe ‘vụ việc’ này.

Chữ Hán ’vụ’ = việc, vd : công vụ. Chữ ‘sự việc’ cũng năng được dùng. ‘Sự’ 事 = việc.

 

Tuy vậy ngữ pháp điệp từ (điệp=trùng lặp) này tiếng Anh gọi là ‘redundancy’ hoặc ‘pleonasm’ rườm rà theo họ nên tránh vì thêm yểu tố thừa không cần thiết (needless repetition). Tiếng Anh nói: ‘return back, repeat again, new innovation…’ thì các chữ: ‘back=lui, again=lại, new=mới’ là thừa vì ‘return’ đã có nghĩa trả lui, ‘repeat’ đã có nghĩa nói lại, ‘innovation’ đã có nghĩa đổi mới.

Tiếng Việt có thể nói ’dư thừa’ dù dư=thừa và cũng có thể sử dụng từ láy: dư dả, thừa thãi.

 

       1.4) Văn phạm uyển chuyển lắm lúc gây tình trạng lẫn lộn.

Áo ấm = áo lạnh/rét (giữ ấm chống rét), đánh thắng = đánh bại (ta thắng địch bại), giảm bớt = giảm thêm (bớt lại, giảm thêm), thấp bớt = thấp thêm, gầy bớt = gầy thêm, mở điện = đóng điện, nên dùng mở và tắt, tiếng Việt bỏ dấu = thêm dấu, nín thinh = làm thinh (làm sự nín thinh). ‘Cặp đôi’ vợ chồng = cặp vợ chông (cặp=đôi là từ đồng nghĩa lặp lại).  

 

Hoặc nói tắt: “quyết” thay thế ‘quyết định’ , “quản” thay thế ‘quản lý’, “phí” là “lệ phí”, tiền “tuất” là tiền ‘tử tuất’, người “lịch” = ‘lịch lãm’, “căng” = căng thẳng, “tuyển” VN = đội tuyển VN, “trao đổi” = trao đổi ý kiến, bà “chăm” ông = chăm nuôi…

 

 

                2) Yếu Tố Từ Hán Việt Trong Tiếng Việt.

Chúng ta xét 1) các đặc điểm, 2) vai trò các từ Hán Việt.

 

      2.1) Các Đặc Điểm Của Từ Hán Việt.

             2.1a) Theo Hán ngữ đại tự điển thì số lượng chữ Hán đơn là trên 56.000.

Tiếng Việt cho nhập tịch khoảng 5.000 ‘từ’ Hán (gần 1/10 tổng số) và hoán cải theo âm Việt. Đó là những từ Hán Việt, trong số đó chỉ khoảng 1.000 từ là thực sự thông thường được dùng. 

 

Trong tiếng Việt hiện nay, từ vựng Hán Việt chiếm khoảng 70%, còn lại 30% là từ thuần Việt, tuy ít hơn nhưng luôn dùng.

 

Từ thuần Việt chiếm tỷ lệ trên 90% trong giao tiếp chuyện trò hàng ngày, kịch nói, trên 85% trong các tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, hồi ký… Từ đơn thường được dùng.

Trong bốn câu đầu của truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi…” chỉ có 2 từ Hán Việt (tài mệnh).

Bài thơ ‘Bánh Trôi Nước’ 28 chữ của Hồ Xuân Hương chỉ có một từ Hán Việt (Thân em).

 

Từ Hán Việt ngược lại chiếm khoảng trên dưới 70% ở các công trình biên khảo khoa học, kỹ thuật, kinh tế, nghệ thuật, triết, văn, tôn, chính trị, quân sự… cần sử dụng các danh từ trừu tượng thường thiếu sót trong tiếng Thuần Việt. Từ đôi là thông dụng.                   

 

             2.1b) Nhiều từ đơn Hán Việt trùng với từ Thuần Việt (từ Nôm) nên có thể đứng riêng lẻ, vd: thần, thánh, đông, tây, học, hoãn, ác, hung, tạo, tại… Song đa số đứng thành cặp, đôi ba (từ phức) vd: bảo đảm, can đảm, phong trần, kết liễu, câu lạc bộ… Chữ Hán ít âm tiết, đa nghĩa, đoán được nghĩa là khó. Nếu chúng đứng cụm đôi, ba với nhau thì dễ nhận diện.

 

             2.1c) Các bất đồng giữa từ ngữ Việt, Trung:

+Khác lời – Tiếng Việt nói: “ca sĩ, thi sĩ, họa sĩ, văn sĩ (nhà văn), phi công, tài xế…” thì tiếng Trung nói: ca thủ, thi nhân, họa gia, tác gia, phi hành viên, tư cơ (tư=điều khiển).

 

+Khác nghĩa -- Tiếng Trung “khôi ngô” là nở nang, to tát, thì tiếng Việt có nghĩa nam nhi mặt mày sáng suả đẹp đẽ. “Đinh ninh” là dặn dò thì tiếng Việt hiểu là tin chắc. “Bần tiện” là nghèo hèn thì tiếng Việt hiểu trệch ra là keo kiệt, thù vặt, kém nhân phẩm. “Tử tế” là tỉ mỉ, cẩn thận, tằn tiện thì tiếng Việt có nghĩa xử sự tốt. “Khốn nạn” là rắc rối, khó khăn thì tiếng Việt có nghĩa hèn mạt, đáng khinh. “Vấn nạn” là hỏi vặn thì tiếng Việt dùng với nghĩa vấn đề khó khăn, nan đề…

Các thí dụ rất nhiều nên chẳng để tâm làm gì, chữ nghĩa của ai nấy dùng.

 

      2.2) Vai Trò Các Từ Hán Việt.

Tiếng Việt hưởng lợi sở hữu 2 tài sản ngôn ngữ. Đó là tiếng Thuần Việt (Nôm) và tiếng Hán Việt khiến nhiều sự việc được diễn tả theo hai cách, bình thường mộc mạc hoặc văn vẻ kiểu cách. Có thể nói, viết: người đẹp hoặc ‘mỹ nhân’, giúp đỡ hoặc ‘hỗ trợ’, giàu sang hoặc ‘phú quý’, yêu nước hoặc ‘ái quốc’, chia buồn hoặc ‘phân ưu’, qua đời hoặc ‘tạ thế’, dùng hoặc ‘sử dụng’, có hoặc ‘sở hữu’,  phần lớn hoặc ‘đa số’, vùng biển hoặc ‘hải phận’.…

 

Tuy nhiên có trường hợp tiếng Nôm bất túc, để diễn tả phải dùng ‘từ’ Hán Việt, văn vẻ.

Thí dụ: anh hùng, bổn phận, danh dự, thông minh, công lao, khuyến khích…

Ngược lại có nhiều tiếng Trung bình dị trong sinh hoạt hàng ngày thì xa lạ với tiếng Việt.

Thí dụ : bồ đào=nho, bình quả=táo, thái=rau, nãi=sữa, bính=bánh, trác tử=cái bàn, ma tước=chim sẻ, mã nghị=con kiến, chiếu tướng=chụp ảnh, lý phát=hớt tóc…

Cũng như các từ ngữ chưa hề được nghe: khảo lự, phủ tuất, thủ giản, dao khống, để cảo…

 

Theo loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song trong thực tế cấu trúc từ phức lại là chủ đạo. Tiếng Việt đã thành hình hiếm khi bổ sung từ đơn mới song vẫn đều đặn tạo từ phức.

 

--Từ phức, có thể thuần Việt, vd: thóc lúa, cày cấy, chia sẻ, đùm bọc, ghen ghét, cay đắng…

--Có thể Hán Việt, vd: bình đẳng, đoàn kết, tổ quốc, lạc quan, khả năng, tục huyền…

--Có thể hỗn từ (hỗn=trộn lẫn), vd: binh lính, bụi trần, da liễu, đơn chiếc, hiểm nghèo, học trò, bói toán, bồi đắp, chi trả, nuôi dưỡng, quê hương, thoái lui, sức lực, mùi vị, sự việc, tài giỏi, tiễn đưa, tụ họp, tuyển chọn, vi tính, vi sóng, xét xử, xương cốt, yến tiệc… Và linh tinh gần đây, in ấn, đạo nhái, siêu bền, chỉnh sửa, quốc giỗ, quy chụp,  khai màn (khai mạc), di dời, vụ việc, hấp hôn, trải nghiệm, (từ gốc Hán được gạch dưới). 

Các hỗn từ thể hiện sự phối hợp hữu ích, thông dụng và tinh xảo giữa từ Nôm và từ Hán.

 

Các từ Hán Việt giúp làm tăng từ một lên 3 lần khả năng tạo từ đôi mới trong tiếng Việt.

 

Có những từ Hán Việt thuộc loại rất khó, ít sử dụng, vd: ‘lân tuất’, ‘trừ tịch’, ‘bỉ sắc tư phong’, phải được chú thích nghĩa. Nhiều từ khác, năng gặp hơn, vd: ‘kỳ phùng địch thủ’, bạn ‘cố tri’, người ‘tâm phúc’, người ‘thục nữ’, ‘thiên kiều bá mị’.  

Tất nhiên mọi người đều dễ dàng hiểu nghĩa các từ phức ấy, lắm khi ngỡ là tiếng thuần Việt. Đại khái kỳ phùng địch thủ = kẻ ngang tài, bạn cố tri = bạn quen cũ, người tâm phúc = người tin cẩn, thục nữ = người đàn bà đức hạnh, thiên kiều bá mị = xinh đẹp tuyệt vời.

 

Song chỉ những ai nắm được nghĩa của mỗi từ đơn Hán Việt, vd: ‘kỳ’= đánh cờ, phùng= gặp, cố= xưa, tri = biết, tâm = tim, ‘phúc’= bụng, thục = hiền lành v.v… thì từ đó mới có thể thao tác chúng để tạo thêm từ phức khác. Thí dụ đã có ‘tọa cụ’ của các thiền sư, lại đặt thêm từ ‘ngọa cụ’.

Chữ cụ具jù = đồ dùng vốn đã cung cấp cho tiếng Việt hàng loạt từ đôi thông dụng: cụ thể, dụng cụ, công cụ, khí cụ, nhạc cụ, họa cụ, cụ bị, nông cụ, học cụ, hình cụ, gia cụ, quân cụ, y cụ, đạo cụ… 
 
Có nhiều biện pháp tu từ để làm giàu từ ngữ tiếng Việt. (xem tiếp, Phần 2).

 
Chú Thích. 
 
(*) Các từ láy ‘khù khờ, rắc rối, ngao ngán, nhút nhát, (láy phụ âm đầu), bàu nhàu, lom khom, tờ mờ (láy vần âm sau)’… do từ đứng trước là vô nghĩa nên láy âm theo từ đứng sau có nghĩa.  
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Hai 2024
Tác giả cho rằng, các Nhà Nho luôn muốn thần thánh hoá các bậc lãnh đạo, nhưng Hàn Phi – triết gia đại diện phái Pháp trị của Trung Quốc, từ thời nhà Tần – đã tước bỏ ý nghĩa thần thánh của họ, và coi vua cũng chỉ là một người bình thường như những người khác. Ông nêu rõ “pháp luật đúng đắn, bày ra hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của dân chúng, khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già cả được thoả lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành…” Tiếc thay, tác giả bình luận, ông Trọng lại quan tâm đến trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ nêu gương, chứ không phải là hành vi vi phạm.
20 Tháng Hai 2024
Lập luận “cố đấm ăn xôi” này không có cơ sở, vì sự tan rã của Liên Xô không phải là “bước thụt lùi tạm thời" mà vĩnh viễn. Thế nhưng, với thái độ ù lỳ và quan điểm chậm tiến, đảng CSVN vẫn cố bám lấy chiếc áo rách để lập luận: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử...
15 Tháng Hai 2024
Về tình hình chính trị, đảng CSVN có kế hoạch tổ chức các Hội nghị Trung ương để chuẩn bị Đại hội đảng kỳ XIV vào đầu năm 2026. Các Hội nghị này sẽ thảo luận các tài liệu của kỳ đảng XIII sẽ trình ra Đại hội đảng XIV, trong đó có “Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa tới. Trong số Văn kiện này có danh tính người được đề nghị thay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người sẽ 82 tuổi vào năm 2026 và đã giữ chức Tổng Bí thư đảng 3 nhiệm kỳ, từ năm 2011. Có 3 người đứng đầu danh sách ứng viên gồm:...
05 Tháng Hai 2024
Tuy sinh ra trong thời đại tương đối mới, nhưng các chế độ độc tài như Phát Xít, Quốc Xã của Hitler, hay Đôc Tài Giáo Phiệt của Iran, hay độc tài CS thiếu một yếu tố quan trọng trong khế ước ký kết với nhân dân, hoặc nôm na là HP. Đó là yếu tố đồng thuận của kẻ bị cai trị. Chưa bao giờ có một đảng CS nào có một bản HP thực sự của dân, do dân và vì dân. Chỉ là những bản HP áp đạt trên nhân dân bằng bạo lực và nắm giữ quyền lực bằng bạo lực. Chính vì thế, tiến trình dân chủ hóa đòi hỏi một trật tự chinh trị mới, thể hiện qua một bản hiến pháp dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên.
02 Tháng Hai 2024
Khoan bàn đến các sai phạm, chỉ xem cách BCH TƯ đảng khóa 13 loại bỏ ông Trần Tuấn Anh và ông Phan Việt Cường qua phiên họp bất thường vừa được tổ chức cách nay vài ngày ắt sẽ thấy dù vẫn bi bô về “học tập và làm theo” mọi thứ từ “bác” nhưng xét cho đến cùng, “Bác” cũng chỉ được Đảng CSVN dùng như pháp sư dùng... “bùa”. Nếu BCH TƯ Đảng khóa 13 chấp nhận cho ông Trần Tuấn Anh và ông Phan Việt Cường “thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu” thì chẳng khác gì công nhận các thành viên trong BCH TƯ Đảng khóa 13 từ Tổng Bí thư trở xuống... thua xa...
02 Tháng Hai 2024
Cuộc Cách mạng Dù Vàng đã trôi qua gần 10 năm, mặc dù gần như bị thế giới quên lãng như Cuộc Cách Mạng Mùa Xuân Ả Rập năm 2011 nhưng cũng để lại những bài học quý giá cho các dân tộc còn đang bị các chế độ độc tài cai trị – Tuổi trẻ Hongkong có ý thức chính trị cao, có nhiệt huyết nhưng không có tổ chức. Muốn làm cách mạng phải có Tổ Chức, có học thuyết chính trị, phải có chuẩn bị. Không có tổ chức, cho dù cách mạng có thành công rồi cũng sẽ rơi vào hỗn loạn. Hơn thế nữa, cũng đừng quên rằng sự thất bại của 2 cuộc cách mạng nói trên còn có một lý do khách quan. Họ đã không nhận được sự giúp đỡ của các nước Âu, Mỹ...
31 Tháng Giêng 2024
Những đồng tiền này sẽ làm cho những tên cán bộ có chức có quyền có được đời sống ‘sang, chảnh’, sẽ cho chúng có biệt phủ, siêu xe, du thuyền, được dùng để trả lương cho hàng triệu tên Hồng Vệ Binh đang ngày đểm bảo vệ cho mình, trả cho những tên du thủ du thực khoác áo an ninh mạng rình mò, soi mói để tìm ra những người bất đồng chính kiến, ngoài ra cũng còn được dùng để mua lấy súng đạn từ nước khác nhưng để đàn áp dân chủ, tự do, nhân quyền của người dân là chính, nhằm bảo vệ cái ngai vàng độc tài toàn trị rệu rã mang tên đảng csVN.
30 Tháng Giêng 2024
Tội ít nghiêm trọng: không quá hai tháng và được gia hạn, tổng thời gian không quá ba tháng; qua đến những tội nghiêm trọng hơn và cuối cùng là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: không quá bốn tháng, được gia hạn, tổng thời gian không quá mười hai tháng. Đối với những tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm cho đến khi kết thúc điều tra. Nên nhớ giai đoạn này, nghi can vẫn là người vô tội. Thời gian tạm giam như vậy quá dài, thực sự là không tưởng tượng được và đi đến bất công khi so sánh với các quốc gia dân chủ chân chính.
29 Tháng Giêng 2024
Kinh tế thị trường là tổng hòa của nhiều mối quan hệ. Nếu không có tư pháp và quốc hội độc lập, không có hệ thống bầu cử khả tín, thì ‘bói đâu ra’ nền kinh tế tự do (sở hữu tư nhân, luật pháp nhất quán, rõ ràng…) Nếu nền kinh tế không được quản trị bởi ‘tam quyền phân lập’, chính phủ do dân bầu, với một xã hội dân sự đàng hoàng, một nền báo chí công khai, thì không một nhà tư bản nào dám nhảy sang con thuyền mà Việt Nam vừa cam kết ‘chia sẻ tương lai’ với Trung Quốc của Tập Cận Bình. Tại diễn đàn Bắc Kinh 20 năm trước, ông Trọng khẳng định, sự hình thành kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình trong thực tiễn của Việt Nam...
28 Tháng Giêng 2024
Thử hỏi nghe đi nghe lại mấy sáo ngữ trên, nào là “ tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm”, nào là “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “nào là “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, có người bình thường nào mà nhịn nổi, không mượn lời Vũ Trọng Phụng để gầm lên: “Biết rồi, khổ quá, nói mãi.”? “Đẩy mạnh thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và tâm huyết là định hướng lớn, có tính cấp bách, mang tầm chiến lược trong xây dựng TP” – Thành uỷ TP.HCM định hướng và khẳng định sẽ tăng cường thu hút, trọng dụng, sử dụng hiệu quả, đãi ngộ xứng đáng, chế độ lương, thu nhập công bằng, hợp lý, thỏa đáng.” - Nói trớt quớt!