Chữ Nho - chữ Tàu!

24 Tháng Tám 201911:43 CH(Xem: 354)
                                          CHỮ NHO - CHỮ TÀU

WER

Q
uyền Được Biết



Trong chương trình thúc đẩy người dân trong nước Bài Trung, tẩy chay Tàu Khựa trên nhiều lĩnh vực, kinh tế không mua hàng Made in China, xã hội không gã con cho Tàu Đại Lục, không làm ăn buôn bán với chúng, văn hóa bài trừ những từ Việt gốc Hán mà trang nhà chúng tôi đã có nhiều bài viết nêu ra những từ ngữ lệ thuộc giặc Tàu, có nguồn gốc Tàu hóa trong quá trình bọn chúng xâm lăng và cướp nước Việt, áp đặt chính sách cai trị và đồng hóa dân ta từ xa xưa cho đến hôm nay.
May mắn thay chúng ta đã có chữ quốc ngữ thay thế tuy nhiên khi phiên âm, phiên dịch ra vẫn còn mang nặng âm hưởng văn hóa Tàu, đó là điều không đúng đắn bởi vì trong tự điển Tiếng Việt hiện nay chúng ta hoàn toàn có những từ thay thế thuần Việt mà không lai căng bọn Tàu vì thế việc cổ xúy bảo tồn tiếng Việt là một việc làm cần thiết nhưng cần thiết hơn nữa là những nhà trí thức, học giả phải tìm tòi, phát kiến ra những từ mới chưa hề có trong từ điển mang tính thuần Việt để thay thế cho những từ có nguồn gốc từ chữ Hán, chữ Nho.
Không có lý gì mà khi mang danh những nhà ngôn ngữ học, bằng cấp đầy mình mà lại thua cả hạng thứ dân tầm thường khi họ sử dụng và cải biên ngôn ngữ hàng ngày trong giao tiếp, làm giàu thêm tiếng Việt mà các học giả không có những công trình mới về Tiếng Việt cho người dân sử dụng, đó là một thiếu sót lớn với dân tộc.
Chúng tôi xin nhắc lại cho quý vị nhớ rằng:
- Chúng ta mất nước, mất miền nam bởi vì tư duy giải phóng người dân miền bắc không có trong đầu các lãnh tụ và người dân miền nam, do đó trong chiến tranh chúng ta chỉ ở thế hòa và thua chứ không ở thế công như cộng sản.
- Người Việt nước ngoài cố thủ trong những vỏ ốc với những danh xưng nghe kêu như sấm nhưng không có kế hoạch nào tấn công cộng sản hữu hiệu và kết quả là cộng sản đang ở đầy quanh ta, đó cũng là thế thủ và thế thua!.
- Tiếng Việt bảo tồn nhưng không tìm tòi phát minh ra những chữ mới cho người dân sử dụng mà lại tiếp tục vay mượn những từ của Tàu thì chúng ta vẫn đang mang tâm lý nô lệ dẫn đến thế thủ, dẫm chân tại chỗ cho đến thua trong chiến dịch xâm lăng văn hóa của giặc. Đây chính là trách nhiệm của tất cả người Việt từ trong nước đến nước ngoài phải tìm tòi sáng chế ra những chữ mới để bổ sung cho nguồn vốn từ trong từ điển và thoát khỏi sự cương tỏa của giặc trên mặt trận văn hóa.

======================================================================


                           PHẦN BẮT LỖI TỪ HÁN - VIỆT BÀI VIẾT TRÊN TRANG QĐB
                                                 CỦA TÁC GIẢ TRẦN NGỌC DỤNG




Kể từ khi Alexandre de Rhodes và các giáo sỹ Bồ Đào Nha nghiên cứusáng chế ra chữ Việt có tên gọi Quốc Ngữ cho đến nay đã trải qua mấy trăm năm tuy nhiên do ra đời trong thời kỳ phong kiến cho nên chữ Quốc
Ngữ của nước ta ảnh hưởng vào Trung Quốc với những từ vay mượn rất nhiều.
Trích nguồn Wiki: Chữ Hán, hay Hán tự (chữ Hán phồn thể: 漢字, giản thể: 汉字), Hán văn(漢文/汉文
),[1} chữ Trung Quốc là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Hán có nguồn gốc bản địa, sau đó
du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, tạo thành vùng được gọi
là vùng văn hóa chữ Hán hay vùng văn hóa Đông Á. Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên
chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước.
Danh từ chữ nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam.
Đó là hệ quả lịch sử khi nước Việt bị giặc Tầu đô hộ 1.000 năm trong công cuộc đồng hóa một dân tộc
nằm ở vùng cực nam lục địa.
Những loại trí thức dỏm với tâm hồn nô lệ thâm căn cố đế này đang tiếp tay cho giặc Tầu đô hộ chúng ta
về văn hóa.
Loại chữ Quốc Ngữ mà nền giáo dục trong thế kỷ 20 áp dụng trong nhà trường ảnh hưởng rất nặng nề
tiếng Hán (Chỉ nội chữ Hán cũng chỉ ra đó là một triều đại phong kiến xa xưa bên Tầu) với cách phiên âm,
chuyển ngữ ra một loại tiếng Việt – không thuần Việt mà lại lai tạp Tầu.
Chúng ta có thể nhìn thấy văn phong của người Việt học tập trong nước tại miền nam trước năm 1975 và
sau này di cư ra hải ngoại rất hay dùng những loại chữ có xuất phát từ tiếng Hán và họ gọi đó là từ Hán – Việt
nhưng có một điều là tiếng Việt hoàn toàn có những chữ thay thế thuần Việt mà không lai tạp tiếng Hán nhưng
rất nhiều người không chịu dùng.
Ví dụ về những ngôn từ người Việt trước 1975 tại miền nam hay dùng:
- Đệ nhất, nhị, tam, tứ, chu niên, thủy quân lục chiến, bộ binh, pháo binh, không quân, hải quân, nha lộ vận,
trực thăng, phi công, phi cơ, phi đạo, phi trường, Viện Đại học, học giả, dịch giả, ghi danh, tả ngạn, hữu ngạn,
hàng không mẫu hạm, tiểu, trung, đại, Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu vv…
Về phía csVN cũng không phải không có cải cách những từ Hán thành những từ thuần Việt mà chúng ta
thoạt nghe có vẻ ngô nghê như Tầu bay, Tầu sân bay, sân bay, đường băng, năm thứ nhất, nhì, ba, tư, lính thủy đánh bộ, máy bay lên thẳng, sở giao thông, bên trái, bên phải…; riêng từ "ghi danh" mà những người Việt hải ngoại tự cho mình là kẻ có học chỉ trích cái từ đăng ký của cs thì phải xem đây là cả hai cùng vay mượn, chỉ trích từ đăng ký (Hán) mà lại dùng từ ghi danh (Hán) thì có gì khác nhau đâu? Từ đăng ký, ghi danh phải được thay thế bằng tiếng Việt là "Viết Tên" mới gọi là đúng đắn.
Trên đây là những từ đã được dịch ra thuần tiếng Việt mà không vay mượn tiếng Hán nhưng cũng có khi họ thay đổi nhưng vẫn còn âm hưởng giặc Tầu như Tết Nguyên Đán đổi thành Tết Cổ Truyền, chữ cổ truyền vẫn là một loại văn thoát thai từ tiếng Hán dù đã có thay đổi vì thế theo chúng tôi không gọi Nguyên Đán, Cổ Truyền mà chỉ nên gọi là Tết Ta, Tết Việt là đúng văn phong tiếng Việt nhất (vui lòng đọc rõ nguyên đoạn văn trước khi dùng vài từ - QĐB), riêng về Tết Trung Thu csVN đổi lại thành Tết Thiếu Nhi thì không cần phải có ý kiến.
Một ví dụ khác về cách gọi các loại súng, người ta thường phiên âm ra tiếng Việt thành tiểu liên, trung liên,
đại liên, đây là cách gọi của giặc Tầu, nếu phiên âm ra tiếng Việt thì nghe rất ngô nghê như súng nhỏ, súng vừa và súng lớn, vấn đề này không có gì khó cả, nếu không dịch ra được tiếng Việt thì chúng ta cứ gọi theo tên gốc của chúng là AK47, M16, Bar, M60, …đơn giản hơn nhiều nếu cứ phiên âm theo cách nói Hán – Việt.
Tuy nhiên có những từ gốc Hán không thể sửa chữa như Hải quân, Không quân nếu đổi qua tiếng Việt thì
chữ bị nghèo nghĩa như lính nước, lính trời và nghe không hợp tai cho nên những từ Hán trên đã là mặc định
và không thể thay đổi dù cái thứ tiếng đấy nó không phải là ngôn ngữ thuần chất Việt.
Tinh thần chống giặc Tầu của cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử và vẫn đang còn tiếp diễn với
sự xâm lấn vùng biển Việt Nam của bọn bá quyền Trung Cộng vì thế khởi động tinh thần Bài Trung là điều cần
thiết trong đó không thể không xét lại nhưng ngôn từ mà chúng ta đang sử dụng hàng ngày mang nặng âm
hưởng của bọn chúng, không thể nói rằng khi xưa chúng tôi đã học là phải gọi như vậy, như vầy mới đúng, mà
cần phải đặt tinh thần dân tộc lên trên hết, trong đó bài trừ những ngôn từ mang âm hưởng tiếng Hán là điều
cần thiết để có thể xây dựng được bản sắc văn hóa riêng biệt của một dân tộc.
Với tinh thần cấp tiến chúng tôi không lên án cách hành văn tiếng Việt, ngôn ngữ là dùng để giao tiếp, nói
làm sao cũng được, miễn là người nghe hiểu là không có vấn đề gì cần phải bàn cãi; tuy nhiên, vấn đề chữ Việt
bị lai tạp chữ Hán là một vấn đề không hề nhỏ, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến hàng trăm, hàng ngàn năm cho
dân tộc từ trong nước, cũng như hải ngoại, nếu chúng ta không nhận thấy và có quyết tâm sửa chữa ngay từ
bây giờ.
Không một ai có thể phủ nhận sự thật đúng đắn này và đem những học hàm, học vị mình ra để bảo vệ cho
một loại ngôn ngữ sao chép, phiên âm từ tiếng Hán, nếu có thì đó là những kẻ vong nô với những tâm hồn nô
lệ thâm căn cố đã được truyền qua nhiều thế hệ cho nên mới tiếp tục “kiên quyết” (xin lỗi bạn đọc vì chúng tôi
hành văn theo kiểu cs) tiếp tục con đường mù lòa của những não trạng nô lệ, còn những con người yêu nước
thì mỗi khi mở miệng cất lời thì nên suy cho nghĩ trước khi nói để chúng ta không dùng những ngôn từ vay mượn của giặc Tầu hôm nay cũng như trong lịch sử tiến hóa của nền văn hóa Việt Nam ngày mai.
=====================================================================

Q
uyền Được Biết: Những chữ được tô vàng là của một học giả ở Hoa Kỳ bắt lỗi bài viết của chúng tôi, thế nhưng khi biên tập thì chúng tôi nhận định ông học giả này có nhiều ác cảm và bắt lỗi không ra đâu bởi vì những từ đã tô vàng của ông ta đa phần là từ Việt và nếu đã bắt lỗi thì ông nên chú thích từ thay thế thích hợp để rộng đường dư luận, ông không thể bắt lỗi chung chung và cho rằng lập luận của mình là đúng được.

Còn dưới đây là bài viết của Ông ta mang tên Duy Nguyên Trần Ngọc Dụng - Giảng viên tiếng Việt tại Hoa Kỳ.
Những chữ được tô màu đỏ là chú thích của QĐB về những từ Hán - Việt hoặc Sinh Ngữ mà ông ta dùng trong bài viết. (Ngoại trừ tài liệu trích dẫn).


                          CẦN PHÂN BIỆT CHỮ NHO VÀ TIẾNG TẦU
Kính mời tác giả và bạn đọc xem lại ý kiến của học giả Phạm Quỳnh trong cái tiêu đề "chữ Nho" trên:


Học Giả Phạm Quỳnh: Trước kia quốc văn tức là Hán văn, Hán văn tức là quốc văn, tự nhiên như vậy, không ai bận lòng mà phân biệt chữ nào là chữ ngoài, tiếng nào là tiếng mình, chỉ biết "văn" thì duy có Hán văn mà thôi, mà “Nôm” là lời tục trong dân gian của những kẻ không biết “chữ”. Ta không phải phán đoán cái đó là phải hay không phải, nên hay không nên, chỉ biết rằng đó là sự hiển nhiên như thế và là cái chứng rõ rằng chữ Hán đã tiêm nhiễm vào trong trí não người nước Nam sâu lắm rồi, đã thành cái biểu hiện tự nhiên cho tư tưởng cảm giác của người mình trong mấy mươi thế kỉ nay.

Con khóc cha cũng làm văn tế bằng chữ Nho, chồng dặn vợ cũng viết thơ từ bằng chữ Nho; coi đó thì biết chữ Nho phổ thông là dường nào, tức là cái văn tự độc nhất vô nhị của nước mình. Mười năm, hai mươi nhìn về trước, nếu ta bảo một người học trò nho rằng: “Cái chữ của bác học đó là chữ của nước ngoài, sao bác không học tiếng nước mình, sao lại bỏ của mình mà đi mượn của người cho nó phiền”, tất họ kinh ngạc không hiểu là chuyện chi, rồi cười mà cho mình là người cuồng. Tất trong bụng họ nghĩ: “Chữ của ông cha, của tổ tiên mình, vẫn học xưa nay, của cả nước mình tự vua quan cho đến người thường dân ai cũng biết, sao lại gọi là trong với ngoài? Sao lại gọi của mình với của người? Anh này gàn thật? Vẫn biết rằng chữ Nho là từ Tàu đem sang, nhưng đem từ đời kiếp nghiệp lai nào, mình học đã tự bao giờ đến giờ, thì là chữ của mình chứ, còn của ai”.





Duy Nguyên Trần Ngọc Dụng




Định mệnh trớ trêu khiến cho kho tàng chữ Việt chúng ta có đến 29% chữ Nho dùng chung với chữ thuần

Việt và 60-70% chữ Nho dùng lẫn lộn với tiếng Việt. Nói như vậy có nghĩa là, một số chữ không còn chữ thuần
Việt để dùng mà phải dùng chữ Nho. Thí dụ: Khoa học (科學) là một ngành học thuật (學術) dựa trên đo
lường và tiêu chuẩn hoá1 (標準). Nay có người không đồng ý cách nói này thì chúng ta thay thế các chữ
nghiêng: khoa học, học thuật, tiêu chuẩn hoá, bằng chữ gì? Rất may chúng ta dùng chữ gọi là chữ Nho chứ
không nói theo lối Tầu ghi trong hai dấu ngoặc { }2: khoa học {kēxué}, học thuật {xuéxshù}, tiêu chuẩn hoá
{biāozhǔnhuà}. Qua đây, chúng ta nên tự hào về tài trí của cha ông ta đã phát kiến lối chuyển tự “transliteration” để một mặt phải chấp nhận chữ Nho theo chủ trương đồng hoá dân Việt, một mặt không làm mai một tiếng Việt.
1 Đây là định nghĩa do tôi nghĩ ra dựa theo phương pháp chiết tự những chữ hội ý của Tầu.
2 Dấu này chỉ hình thức “bính âm” tức pinyin hiện nay Tầu cộng đang dùng để phân biệt dấu [] dùng để phiên
âm theo lối ngữ âm (phonetic transcription)

Không một ngôn ngữ nào tự vỗ ngực xưng tên là có vốn từ-vựng độc lập hay thuần tuý cả. Đó là vì không
một dân tộc nào đứng riêng rẽ trong cộng đồng thế giới. Ngôn ngữ luôn luôn bị pha trộn qua hôn nhân, buôn
bán, giao tiếp, v.v... nên thường chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Tiếng Việt của chúng ta, vì hoàn cảnh đặc biệt, sự
pha trộn hơi bất thường do bị áp đặt, chứ không theo lẽ tự nhiên như nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn,
tiếng Anh có trên 10 ngàn chữ gốc Celtic bao gồm các chữ trong nhóm Common Brottonic, Gaulish, Irish,
Scottish Gaelic, Welsh; ba ngàn chữ Ả-rập: $# أم amīr > admiral, ة) ال طو al-tūba | at-tūba > adobe,
ت. عرف ʿifrīt > afrit (mythology), الغطّاس al-ghattās > albatross, ال ك يم ياء al-kīmīāʾ > alchemy, chemistry,
ال كحل al-kohl > alcohol, và rất nhiều chữ gốc Pháp, như abaissier > abase, esbaїr > abash, abatre > abate,
abatement/abattement > abatement; Tây-ban-nha: abacá > abaca, Ohlone aluan > abalone, el lagarto >
alligator, anchoa > anchovy; Ý: maestro > master, mandolino > mandolin, quartetto > quartet,
quintetto >quintet, sestetto > sexte, solista > soloist, v.v...; Hy-lạp và La-tinh, không tiện kể ra đây vì quá
nhiều.
Riêng tiếng Việt do bị đô hộ (xâm chiếm và cai trị - QĐB) trên một ngàn năm nên có khoảng 29% từ-ngữ của họ thay thế tiếng Việt thuần tuý (Hán: nguyên bản, nguyên gốc - QĐB) như dấu > yêu (< ái), chác > mua (< mại), cái dôn > vợ chồng (<trượng phu và lão bà), v.v…
Điểm cần nhấn mạnh là, không ai có thể thay đổi được quá khứ. (Việt: đã qua - QĐB) Với số lượng chữ chiếm đến 29% từ gốc Hán, tiếng Việt không thể nào trở lại nguyên hình ("!" Chữ Việt dùng hình có ở thời đồ đá, nên dùng chữ nguyên gốc - QĐB) của thời kỳ từ 111 Trước Tây Lịch (TTL) được. Bản thân người viết lời phê bình cũng không tránh khỏi. Những chữ tô vàng trong bài của người phê bình cũng không ít chữ gốc Hán! Điều cần minh định là phải phân biệt “từ gốc Hán” (Sino-original) với “tiếng Tầu hiện tại” (modern Chinese) như đã nói như trên.
Với chủ trương thôn tính Việt Nam, Tầu cộng đã nặn ra Đảng Cộng Sản Việt Nam để thi hành mưu đồ đó.
Họ từ từ thay thế chữ Nho bằng tiếng Tầu hiện đại vì họ biết rõ “ngôn ngữ là chiếc xe chuyên chở văn hoá”.
Thay đổi được ngôn ngữ là xoá sạch được văn hoá! Thâm độc vô cùng.
Cần có sự phân biệt sự khác nhau đó như sau:
Hãy so sánh một vài từ-ngữ biến cải hay thay đổi trong khoảng 1954 đến 1975 giữa hai miền
Nam Bắc:

Bảng 1
Trước năm 1954        Tại miền Bắc              Tại miền Nam            Nghĩa tiếng Anh
    ghi-đông                    ghi đông                       ghi-đông                    steering bar (French ‘guidon’)
    nạn nhân                   nạn nhân                      nạn nhân                      victim     
    phụ tá                        phụ tá                           phụ tá                        assistant
   quan thuế                  quan thuế                      quan thuế                    customs
     liên lạc                       liên lạc                          liên lạc                     to contact
thượng tầng kiến       thượng tầng kiến trúc    thượng tầng kiến trúc       suprastructure
trúc
   hạ tầng cơ sở            hạ tầng cơ sở                hạ tầng cơ sở              infrastructure
    thủ phạm                   thủ phạm                      thủ phạm                     culprit

Sau Hiệp Định Geneva (gốc Genève, Việt: Geneva - QĐB) thì sao? Được sự bảo bọc của cán bộ cộng sản Tầu làm cố vấn (Hán) trong Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất cùng với sự phụ hoạ ("Hán" Việt: tán thành, ủng hộ - QĐB) của các cán bộ cộng sản Việt Nam được gửi sang Tầu để học tập rồi trở về với những nhiệm vụ mới, những từ-ngữ của Tầu dần dần thay thế hầu hết các từ-ngữ tiếng Việt truyền thống.
Sau đây là một vài thí dụ về sự thay đổi rất lớn trong cách sử dụng từ ngữ mới và cũ. Bảng 1 ghi rõ những từ-ngữ khác nhau, ngay sau khi hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 1954.

Bảng 2
Sau năm1954                Tại miền Bắc                       Tại miền Nam                          Nghĩa tiếng Anh
ghi-đông                         ghi đông                                tay lái                          steering bar(French, guidon)
nạn nhân                        kẻ bị hại                              nạn nhân                                    victim
phụ tá                              trợ lý                                    phụ tá                                    assistant
quan thuế                       hải quan                              quan thuế                                 customs
liên lạc                         liên hệ (relate)                          liên lạc                                   to contact
thượng tầng kiến              vĩ mô                         thượng tầng kiến trúc             suprastructure
trúc
hạ tầng cơ sở                   vi mô                                hạ tầng cơ sở                            infrastructure
thủ phạm                      kẻ thủ ác                                 thủ phạm                                  culprit
máy điện toán                  n/a                                   máy điện toán                             computer

Bảng 3
Từ-ngữ du nhập trực tiếp của Tầu   Tại miền Bắc từ năm 1954    Tại miền Nam đến 1975      Nghĩa tiếng Anh
 大灶[dàzào}                                             đại táo                                ăn chung                   mess hall                                                                                                                                                                     海關 [hǎi guān}                                        hải quan                              quan thuế                  customs
後勤 [hòu qín}                                         hậu cần                                quân nhu                   logistics    
連系 [liánxì}                                            liên hệ
                                   liên lạc                     contact
戶口[hù kǒu}                                           hộ khẩu                    tờ khai gia đình registered residence   
离婚 [líhūn}                                              ly hôn                                      ly dị                      divorce          

目椘眎[mù chǔ shì}                               mục sở thị                            thấy tận mắt                witness
首長[shǒu zhǎng}                                   thủ trưởng                            trưởng đơn vị             senior official
助理 [zhù lǐ}                                              trợ lí                                      phụ tá                    assistant
思維 [sī wéi}                                            tư duy                                    suy nghĩ  thought, thinking
出口[chū kǒu}                                        xuất khẩu                                xuất cảng                   export
Source: Chinese Character Dictionary Online

Kết quả là hiện nay, đã có hàng ngàn từ-ngữ mới du nhập trực tiếp của Tầu và được thêm vào kho tàng từ vựng tiếng Việt.
Như đã nói, do hậu quả hơn 1000 năm bị người Tầu đô hộ, và do sự tiếp xúc miễn cưỡng do áp đặt giữa hai ngôn ngữ, trong kho tàng tiếng Việt có khoảng 60-70 phần trăm từ gốc Hán5 dùng pha trộn với tiếng Việt dưới 3 hình thức: Hán-Hán, Hán-Việt, Việt-Hán:
Hán-Hán: huynh đệ ‘anh em’, phụ mẫu ‘cha mẹ’, phu thê ‘chồng vợ6’ sơn thuỷ ‘núi sông’, bằng
hữu ‘bạn bè’, thương mại ‘buôn bán’, quốc gia ‘nước nhà’, thống khổ ‘đau đớn, khổ sở’, phong trần ‘gió bụi’, xú uế ‘mùi làm buồn nôn’…
Hình thức này gồm hai từ khác nhau kết hợp thành mối liên kết.
Hình thức tiếp theo là dạng song tiết gồm hai chữ cùng nghĩa tạo thành một cặp.
Hán-Việt: chi nhánh, thâm sâu, kỳ lạ, hiền lành, toàn vẹn, trợ giúp, linh thiêng, phế bỏ, mê say,
trụ cột, tuyến đường, …
Việt-Hán: chia ly, dối trá, đường thuỷ, rèn luyện, điên cuồng, nghề nghiệp, khen thưởng, mến mộ, dối trá, sâu thẳm7, thượng lên (bàn, ghế, chỗ cao), thợ mộc, cửa khẩu, nghề nghiệp, …
5 Lý Lạc Nghị &Jim Waters, Tìm Về Cội Nguồn chữ Hán, nhà xuất bản Thế Giới Việt Nam, 1998:ix.
6 Người Việt nói vợ chồng, không nói chồng vợ.
7 Biến âm của chữ thâm.

Hình thức trên gồm hai từ kết hợp với nhau để tạo nghĩa mới.
Việt-Việt: heo quéo, mặn mà, chợ búa, rừng rú, bán chác/đổi chác, nôm na, bẽn lẽn, sâu rộng,
chân tay, đau đớn, nhà cửa, hôi thúi, gió bụi, …
Tuy nhiên, với ý hướng thoát khỏi ảnh hưởng của tiếng Hán, rất nhiều từ-ngữ được Việt hoá cả âm lẫn nghĩa. Theo đó những từ-ngữ mới mang nghĩa mới mà chỉ người Việt với nhau mới hiểu rõ.
Bảng 4 giới thiệu vài từ-ngữ để chứng minh sự khác nhau về hai nghĩa dựa trên cùng một từ-ngữ.

Bảng 4
Chữ Tầu và cách đọc             Nghĩa theo chữ Tầu                  Âm Việt Hoá              Nghĩa Việt hoá
子細 {zixi}                                  meticulous                              tử tế                     kind-hearted
小心 {xiǎo xīn}                              careful                                tiểu tâm                self-fish, picky
馬上 {mǎ shàng}                  at once; right away;                   mã thượng                     noble
                                                 immediately                      
和好 {hé hǎo}                     to become reconciled                      hoà hảo                     harmony
安排 {ān pái}                to arrange; to plan; to set up                an bài                      predestine
人名{rénmíng}                         personal name                        nhân danh                 on behalf of
模仿{mófăng}                    reproduce, imitate, copy                 mô phỏng                      adopt
認識{rènshi}                      to know; to be familiar                   nhận thức                    to realize
                                             with; to recognize
摸仿{mō fǎng}                              imitation                             dựa theo                        adapt
Source: Chinese Character Dictionary Online

Khuynh hướng trên đây giúp cho tiếng Việt trở nên phong phú hơn và không hoàn toàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của chữ Tầu. Thật vậy, tuy hai chữ Việt–Tầu cùng nghĩa: ngoài = ngoại: hàng ngoài ≠ hàng ngoại; đẻ = sanh: đẻ trứng ≠ sanh con; tre = trúc: khóm tre ≠ khóm trúc; đệ = em, tử = con: đệ tử ≠ con em; bụi = trần: bụi đời ≠ trần đời; … Chưa kể tiếng Tầu rất “nghèo” về chữ nghĩa.
Chẳng hạn mô phỏng: làm theo, dựa theo, bắt chước; hư cấu: bịa chuyện, tưởng tượng, đặt điều (chuyện không có thật - QĐB) Do đó, khi dùng chữ gốc Hán cũng nên cẩn thận kẻo người đọc có thể hiểu lầm.
Qua đó, báo chí và truyền thông hải ngoại (nước ngoài - QĐB) không nên tiếp tay cho đám cầm quyền cộng sản mà nên loại trừ các loại từ ngữ “lai Tầu” để dạy cho con em tại hải ngoại! Một điều không thể chấp nhận được chiếu theo tinh thần bảo tồn (gìn giữ - QĐB) và phát triển ngôn ngữ truyền thống (thuần Việt - QĐB).
Tiếp đến tác giả quên rằng, khi có sự tiếp xúc của hai ngôn ngữ, người Tầu cũng chịu ảnh hưởng của người Việt và từ đó tiếng Tầu cũng có gốc tiếng Việt. Dưới đây là một số chữ gốc Việt trong chữ Hán.

1. Về cây cỏ, chẳng hạn như cây cau qua chuyện Trầu Cau dưới thời Hùng Vương. Chữ cau là âm trại của chữ a¬aykka trong tiếng Mã-lai, như chữ soong đọc trại từ chữ casserole của tiếng Pháp.
Tiếng Anh nói dựa theo tiếng La-tinh là areca. Người Tày gọi cau là mày làng, người K’Ho gọi là pơ lạng. Người Tầu viết và phiên âm thành 檳榔 {bīng lang} và âm Hán-Việt chuyển tự là tân lang.
2. Cây chuối ‘banana’ của người Việt xuất phát từ tiếng Nam Á, nên người Khờ Me thì nói là chec, người Hán phiên âm thành {jiāo} 蕉 ‘tiêu’. Ngày nay chúng ta có loại chuối tiêu để chỉ loại chuối trái hình dáng nhỏ hơn so với các loại chuối khác như sứ, ba lùn, đá, hột, ba hương, v.v…
3. Thí dụ nữa là gừng ‘ginger’ loài thuốc quý của phương Nam, nếu dùng khi còn tươi có tác dụng trị cảm, tiêu hoá; dùng khô thì có tác dụng giữ người ấm và xua tan cái lạnh nhập vào người.
Nguyên chữ gừng xưa đọc là keng, người Hán mượn âm {keng} đó mà viết thành 薑 {jiāng}, sau đó người mình đọc trại âm {jiāng} ra là khương. Có hai loại sanh khương ‘gừng tươi’ và can khương ‘gừng khô’ như đã nói.
4. Tương tự, trái trám ‘canarium harveyi’ nguyên là trái klam; Hán thượng cổ nghe thành blàu nên từng gọi là bồ lưu. Về sau đổi thành cảm lãm và viết là 橄欖 {gǎn lǎn} cho hợp với âm nguyên thuỷ của klam. Lưu ý, người Tầu không nói được phụ âm ghép nên thường ra thành hai âm đơn.
Thí dụ: tiểu bang Florida họ viết thành 弗洛里亚 (Fú luò lǐ yǎ) tức Phất ‘chẳng, trừ đi’, lạc ‘sông Lạc, họ Lạc, Lạc Dương’, lí ‘nhà ở, làng, dặm (360 bước – công lí (1000m), á ‘thứ hai, châu Á’; hoặc Oklahoma 俄拉何馬州 (É kè lā hé mǎ zhōu) tức Nga ‘chốc lát, nước Nga’, lạp ‘bẽ gãy, kéo lôi, chuyên chở’, khắc ‘hiếu thắng, làm được’ mã ‘con ngựa’ châu ‘cồn đất’.
5. Một loài thực vật (cây cỏ, hoa, lá - QĐB) rất được người Việt ưa chuộng và ca tụng là cây sen ‘lotus’. Nguyên xưa, người Việt nói là kren, người Hán nghe thành {lián} 蓮 người Việt đọc trại thành liên < kren > sen.
Trước khi gặp cây sen, người Hán chỉ có loại sen mọc trên khô gọi là cây hà 荷 {hé} hay còn gọi là 芙蕖 {fúqú} đọc thành phù cừ, hạt của nó gọi là liên ‘lotus seed’.
6. Một loại cây khác ở xứ lạnh không có là cây dừa ‘coconut tree’. Người mình gọi là dừa từ chữ cổ da. Người Hán gọi là 椰 {yē} da >椰子{yē zi} đọc là da tử. Cùng giống với loại dừa, cây bang 桄榔 {guāngláng} quang lang < blang < klang > cây bang ‘palm’. Còn có tên là cây đoác.
7. Cây mía cũng là một trong những sản phẩm đặc trưng của phương Nam. Ngày xưa trong giai đoạn trước tiền sử, người Việt sống bằng hái lượm nên khám phá ra tổ ong chứa nhiều mật và dùng mật trước tiên. Khi khám phá ra chất ngọt trong cây mía, nghề làm đường mới phát triển. Lúc bấy giờ các dân tộc phương Nam gọi đường ‘sugar, sweet, candy’ là toong nên khi người Hán du nhập chữ đường vào chữ viết của họ thành 糖 {táng} tức tang. Do vậy mới có thể hiểu tại sao nói về triều đại nhà Đường thì tự điển Anh-Mỹ viết là Tang Dynasty (618–907 sau tây lịch).
8. Ngay cả con gà ‘chicken, rooster’ là giống vật có mặt tại Việt Nam, Thái Lan trên 10 ngàn năm trước. Lúc bấy giờ người mình gọi giống vật này là rka và dần dà biến thành gà. Khi người Hán tiếp xúc với dân ta họ mới biết đến nó và đọc trại ra là kê 雞 {ji}, do biến cách của rka > kja > kjie < {jié} 桀.Qua chữ sen /kren/ và gà /rka/và gần đây nhất là chữ Paris > Ba-lê thì thấy rõ tiếng Hán không hề có âm /r/ do ký hiệu mẫu tự “r” tiêu biểu, đều biến mất khi trở thành âm Hán. Đánh xáp lá cà cũng là do chữ rka này mà ra; tức là đánh cận chiến y hệt hai con con gà chọi đá nhau.
9. Sử truyền rằng cuối thời vua Hùng Vương thứ mười tám Thục Phán cướp ngôi. Lúc bấy giờ Tần Thuỷ Hoàng đã gồm thâu sáu nước và lập nên đế chế đầu tiên tại đất Tầu rồi tự xưng hoàng đế. Tần Thuỷ Hoàng bèn muốn thôn tính (xâm chiếm - QĐB) luôn nước Âu Lạc của ta nên nhiều lần đem quân sang đánh. Thế nhưng người Việt lúc bấy giờ đã có vũ khí đặc biệt bắn ra một lúc nhiều mũi tên do tướng Cao Lỗ sáng chế (làm ra - QĐB) gọi là cái nỏ. Do vậy mà mưu đồ của Tần Thuỷ Hoàng luôn luôn thất bại. Đến khi Triệu Đà là một thái thú ở miền Nam nước Tầu nổi loạn và muốn tách ra khỏi quyền cai trị của nhà Tần nên đã tìm cách chiếm Âu Lạc lập nên “nước Nam Việt”. (Thần nỗ nhất phát sát vạn nhân” 神弩一發殺萬人 ‘Nỏ thần bắn một phát giết được muôn người.’ (Việt: nỏ thần bắn một lần giết được ngàn người - QĐB).
10. Câu chuyện Trọng Thuỷ–Mỵ Châu chứng minh hùng hồn rằng cái ná từ chữ pnar là vũ khí của người Việt chế (làm - QĐB) ra và sau đó Triệu Đà lập mưu thông gia để đánh cắp. Từ đó chữ pnar xuất hiện trong chữ Tầu là nỗ 弩 {nǔ} bằng cách ghép chữ nô 奴 nghĩa là ‘nô9 lệ’ + cung 弓 bên dưới để chỉ món vũ khí được xem là vô địch (Hán: không có từ Việt thay thế - QĐB) thời bấy giờ: pnar > cái ná > nỏ ‘cross-bow’ > 弩 nỗ (âm Hán) sau khi nhập trở lại vào đất Việt.
11. Nguồn gốc người Hán xuất phát từ khu vực con sông gọi là Hoàng hà 黃河 nằm sâu trong đất liền. Lúc bấy giờ họ chỉ biết có nhiều con sông nối với nhau: sông con nối với sông lớn chảy từ nơi này sang nơi khác chứ không có ý niệm chảy ra biển. Do vậy họ chưa có chữ giang. Đến khi lấn chiếm các vùng lân cận ra đến biển về hướng đông và hướng nam, họ học thêm được chữ giang này: 江 {jiāng} ‘river’ giang < sông < krong10 > ‘kong’. Sông Mê-kông là dấu vết còn lại của chữ “kong” này trong tiếng Việt hay trong các tiếng của người sơn cước (người vùng núi - QĐB).
12. Tương tự, việc đi lại trong đất liền không bao giờ cần bè: 筏 {fá} phiệt f < b < bak cái bè
13. Kể cả một vài khoáng chất (Hán - Việt: tài nguyên) người Hán cũng không có nên phải vay mượn của người Việt, như đồng ‘copper’ do chữ toong mà ra. Họ dùng chữ 同 {tóng} ‘cùng’ + 金 ‘kim’ thành chữ 銅 vẫnđọc là {tóng}.

Hiện nay, vấn đề trước mắt là cần xác định cách dùng chữ gốc Hán một cách cẩn thận và chính xác, không dùng tiếng Tầu hiện tại ‘modern Chinese’.
Khi dùng tên người Tầu hiện nay, không nên dùng lối chuyển tự (translitertion) như ngày xưa mà nên dùng theo lối bính âm (pinyin) vì lối này đã được quốc tế hoá rồi. Thí dụ: người cầm đầu Tầu cộng là Xi Jinping (習近平) chứ không nên viết thành Tập Cận Bình. Vì sao? Ngày xưa chỉ có người Việt và người Tầu với nhau, nên cần chuyển tự để khi nói chuyện, trao đổi giữa người Việt với nhau, người Tầu không hiểu được. Nay nếu tiếp tục dùng như cũ thì có người ngoại quốc không biết chúng ta đang nói gì về nhân vật đó. Nên dùng cùng cách với thế giới.

Vài giòng góp ý để tìm sự thông cảm và đồng thuận trong việc sử dụng tiếng Việt sao cho hợp lý, trong sáng. Xin đa tạ. (cám ơn - QĐB)

Duy Nguyên Trần Ngọc Dụng
- Giảng viên tiếng Việt tại: Santa Ana College (Trường Cao Đẵng - QĐB) , CSU Fullerton (EDSC541V)
- Trưởng ban Dịch Thuật KHC Garden Grove
- Tham vấn viên(Hán - QĐB) cho National Resources Center for Asian Languages (NRCAL)
(Trung Tâm Tài Nguyên Quốc Gia cho ngôn ngữ Châu Á - QĐB).


https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/pham_quynh-chu_nho_voi_van_quoc_ngu-a.html
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_H%C3%A1n

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Mười 201912:28 SA(Xem: 140)
Người ta không cần mỗi chiếc khẩu trang để che mặt, người ta có thể dùng bất cứ thứ gì khác “cái khẩu trang” mà có thể làm cho người khác không thể nhận dạng. Khi xây dựng luật theo kiểu liệt kê thì tức là thất bại hoàn toàn. Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng hầu như đi vào sai lầm lập pháp kiểu này. Mặc dù vậy, chuyện ban sắc lệnh khẩn cấp cấm người biểu tình đeo khẩu trang, không chỉ khiến nó trở nên lố bịch và vô nghĩa, không thể thực thi, nó cho thấy dấu hiệu sự tuỳ tiện của một nền chính trị có nguy cơ độc tài.
02 Tháng Mười 201910:01 CH(Xem: 193)
Phải nói người Bắc tính bảo thủ quá cao và tính tự ái cũng như vậy, họ tỏ ra hiếu khách nhưng lại ít cởi mở, khéo léo bên ngoài nhưng dò xét bên trong. Thành ra họ sống cảm tính (duy cảm) hơn mà ít duy lý (lý tính). Họ trọng tình cảm, nhưng thiếu lý lẽ, dễ nổi nóng nhưng cũng dễ khuất phục trước quyền uy (ảnh hưởng từ văn hoá nho giáo). Việc thường xuyên chiến tranh với phương Bắc và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (4 mùa khác nhau, khác cơ bản so với miền Nam chỉ có nắng và mưa), việc ảnh hưởng của khí hậu cũng được Montesquieu chỉ ra nó ảnh hưởng thế nào tới tâm tính chính trị của cộng đồng nơi đó...
01 Tháng Mười 201910:29 CH(Xem: 186)
Có lẽ, 70 năm là quá đủ cho một chính quyền tội phạm được phép tồn tại. Nhân dân họ cần được thụ hưởng nền chính trị dân chủ và tự do, nơi các quyền con người được đảm bảo và nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực chứ không phải là một tổ chức Đảng, tổ chức luôn tự đặt mình lên trên hết mọi thứ. Nói về sức mạnh và điều tốt đẹp, ngay trên nền của một đêm trường tội ác cách đây 30 năm trước đối với hàng loạt đồng bào của dân tộc này, Đảng cộng sản Trung Quốc đã tố cáo rằng chúng chẳng có lấy một chút tính người nào trong tâm trí mình.
01 Tháng Mười 201910:28 CH(Xem: 179)
Việc áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo, tức là vẫn duy trì hạn chế hay tước đoạt các quyền tự do, dân chủ, quyền phát triển xã hội dân sự của Nhân dân Việt Nam là không còn phù hợp và không thể chấp nhận được. Bởi vậy, con đường duy nhất cho Việt Nam phát triển đó là phải cải cách song hành cả thể chế kinh tế và thể chế chính trị. Trong đó cải cách chính trị chuyển từ thể chế chính trị độc đảng sang thể chế chính trị dân chủ đa đảng đóng vai trò then chốt và quyết định.
28 Tháng Chín 201912:27 CH(Xem: 223)
Nếu đứng về quyền lợi của các ĐCS thì chiến lược Diễn Biến Hòa Bình của Mỹ là xấu, vì nó đã làm các ĐCS tự ngã mà không tốn một viên đạn. Nhưng đứng về quyền lợi nhân dân ở các nước CS thì đây là một chính sách rất nhân bản. Đảng CS là kẻ ăn cướp, phải khẳng định là như vậy. Họ cướp mất quyền tự do của nhân dân, họ tước đoạt sự phồn vinh của đất nước, họ ngăn cản nhân dân không được tiếp xúc với văn minh nhân loại vv… Chính vì lẽ đó, chiến lược Diễn Biến Hòa Bình có thể nói đó là cái lợi rất lớn cho những dân tộc bị áp bức. Nó đáng được tán dương.
28 Tháng Chín 201912:20 CH(Xem: 158)
Bạn có nghĩ rằng, một người đấu tranh cho các giá trị cao cả là quyền được sống của con người, sẽ có thời khắc không kiểm soát được cơn giận dữ và sẵn sàng san phẳng thế giới này? Giữa tuyên bố tới hành vi, đó là một khoảng cách, có thể không xảy ra trên thực tế, nhưng phát biểu một cách công khai và rõ ràng trước dư luận, thì riêng việc đó thôi đã đủ để chống lại chính những gì họ bảo vệ rồi.
27 Tháng Chín 201910:11 CH(Xem: 194)
Chỉ vỗ tay và hy vọng thì không đủ. Một nước Việt Nam cần những con người cùng nhau thực sự hành động để đi đến những sự thay đổi mang tính hiện thực. Sẽ chẳng có trái sung ngon ngọt nào rơi vào cái miệng sợ hãi và há to chờ thời mang tên Việt Nam. Bài tập đầu tiên cho những đổi thay, là từ ngay bây giờ, mỗi con người cần quan tâm hơn và lên tiếng về việc vì sao người dân Việt đang rên xiết với đất đai bị cướp bóc, vì sao những người tù nhân lương tâm đang bị đối xử hà khắc và oan ức từng ngày, vì sao luật pháp đang bị chà đạp bởi những kẻ đang cầm nắm quyền lực...
27 Tháng Chín 20199:29 CH(Xem: 218)
Hôm qua, ngày 25/09/2019 Đạo Luật Nhân Quyền và Dân Chủ Hồng Kông năm 2019 đã được thượng Viện và Hạ Viện Mỹ thông qua. Miếng mồi thơm năm nào đã giật đổ Liên Xô và Đông Âu nay lại được Mỹ đem ra dí vào mũi dân Hồng Kông. Và dân Hồng Kông chứ không phải dân Việt Nam, họ hiểu giá trị đích thực của miếng mồi ấy là gì. Và chắc chắn rằng, chính nó sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho dân Hồng Kông vùng lên phá vỡ cái lồng CS mà Bắc Kinh đang chụp lên đầu họ. Trong lúc này, Mỹ xuất chiêu thì đây quả một đòn chí mạng đánh vào lục phủ ngũ tạng Trung Cộng – đòn đánh rất hiểm.
27 Tháng Chín 20199:26 CH(Xem: 389)
Khi đăng bài này tất nhiên người viết cũng như tòa soạn sẽ không - hề - sợ - hãi và nếu Hoàng Kiều hay những kẻ có liên quan có đi thưa thì cũng không có vấn đề gì, nhưng hãy nhớ cho kỹ nếu thưa mà không thắng thì sẽ bị thưa ngược lại và bồi hoàn mọi chi phí đấy nhé. Vài hàng dạy dỗ đám con hoang, cuối cùng xin gửi đến những ai đang âm mưu toan tính và cái bọn ăn theo bẩn thỉu rằng: “Ăn Bậy thì được – nhưng Nói Bậy thì không”. Đó là triết lý sống của một con người đúng nghĩa, còn mình dù cho có khoác lên bản thân mình những danh xưng tỷ phú, luật sư, doanh gia mà ăn nói hồ đồ bậy bạ thì giá trị của mình Not Worth A Penny.
26 Tháng Chín 201912:32 CH(Xem: 188)
Một phần của câu chuyện cho thấy, Trung Quốc không thể trở thành một quốc gia giàu có tử tế khi cơ chế phát triển của nó dựa vào mô hình thành tích. Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo ra một mô hình phát triển chụp giật bất chấp hậu quả. Họ khai sinh một mô hình bị lỗi ngay từ căn bản. Họ “phát triển” cái sai đến mức nó đã trở thành hệ thống của những cái sai. Họ đẻ ra và nuôi những con quái vật tàn phá chính họ. Một đảng cai trị lưu manh đã tạo ra một xã hội lấy lưu manh làm tôn chỉ sống. “Xã hội hóa” lưu manh xảy ra ngay cả trong giáo dục, trong sinh hoạt tôn giáo... và nó còn phát triển đến mức trở thành “quốc tế hóa” sự lưu manh trong đường lối ngoại giao.
22 Tháng Mười 2019
Thưa không được, đánh không xong thì phải làm gì? Làm tay sai cho giặc, đàn áp người biểu tình, bỏ tù người yêu nước, tiêu diệt những mối nguy, để trở thành một bè lũ thái thú tay sai trong thế kỷ 21. Chỉ còn 3 tháng nữa là đến năm 2020, năm mà những tin đồn về Hội Nghị Thành Đô chọn làm cột mốc, nếu đảng đã tự nguyện hiến dâng đất nước thì Việt Nam không còn con đường nào khác khi sẽ phải trở thành một Đặc Khu, một Khu Tự Trị trực thuộc vào nước Mẹ Trung Quốc nếu người dân vẫn nhất quyết không chịu đứng lên lật đổ những kẻ đã bán đứng mình.
20 Tháng Mười 2019
Thực ra, kẻ đương thời Nguyễn Phú Trọng có phước hơn Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống. 2 nhân vật lịch sử kia bán nước khi trong tay không nắm quyền lực nên không có cơ hội vỗ ngực nói rằng “tao yêu nước”. Nhưng ông Trọng thì khác, ông phản quốc nhưng lại nắm quyền lực trong tay nên ông có cơ hội để vỗ ngực “tao đây cũng yêu nước” trước toàn dân mà thôi. Ông Trọng đang dùng lý của kẻ mạnh để khẳng định lòng yêu nước của mình. Nhưng lịch sử rất công bằng, rồi đây lịch sử thời hậu CS sẽ đánh giá ông qua những ông đã làm chứ không phải bằng lời nói của ông về chính bản thân mình. Trong lịch sử, chưa có người yêu nước nào là kẻ khiếp nhược, và chắc chắn không có ngoại lệ nào với ông Trọng.
20 Tháng Mười 2019
Chỉ có căn bệnh tự tôn cho mình là chân lý tuyệt đối, tức là một sự độc tài, người ta mới có thể chỉ đạo cả hệ thống truyền thông và biến nó trở thành những quan toà hòng kết tội những người bất đồng quan điểm hay chính trị - nó đặt ra hệ quy chiếu rằng chính quyền phải là luôn đúng, ngược lại, kẻ nào lên tiếng cho rằng điều đó là sai trái thì đó là những kẻ phản loạn và nguy hiểm, cần phải trừng trị.
20 Tháng Mười 2019
Xin thật lòng mà nói thằng mỗ tôi dị ứng với đám nhân sĩ trí thức xã nghĩa này, cứ hễ có chuyện là xúm nhau lại ồn ào rằng có chúng tôi đây (đánh bóng tên tuổi), và cuối cùng là màn ký kiến nghị, những tờ kiến nghị đối với đảng Ba Đình không chút giá trị, thua cả toilet paper. Đòi chơi với Mẽo, đòi thoát Trung, thế cái kiên định con đường xã nghĩa boác đi vứt cho chó gặm à?
15 Tháng Mười 2019
Khi trí tuệ thiếu sáng suốt mà có lòng tham thì kẻ đó sẽ bị lợi dụng vì chính lòng tham của họ. Khi trí tuệ thiếu sáng suốt cộng với tính hiếu thắng thì kẻ đó sẽ bị lợi dụng vì tính hiếu thắng của họ. Khi trí tuệ thiếu sáng suốt mà cộng thêm sự hèn nhát thì chính kẻ đó sẽ bị lợi dụng sự hèn nhát đó. Khi trí tuệ thiếu sáng suốt mà xem nhân dân là kẻ thù thì chính ĐcsVN sẽ bị ĐCS Tàu lợi dụng để đẩy ĐcsVN xích lại gần Tàu và xa cách nhân dân hơn.
13 Tháng Mười 2019
Thật là mỉa mai cho con người ông Trọng và thật đau sót cho thât phận đất nước, một con người nắm quyền sinh quyền sát trong tay, có tiếng nói ảnh hưởng vô cùng lớn đến vận mệnh của đất nước mà lại không thể nhận ra cái XHCN mà ông đang bắt đất nước phải đi theo nó là cái mô tơ gì cả. Bản thân ông, đến giờ đã 74 xuống lỗ nay mai nhưng lại không hề biết vị trí thật sự của cái mô hình XHCN kia đang ở đâu của lịch sử nhân loại. Ấy vậy mà ông đã chỉ đạo đảng ông phải kéo cái kinh tế thị trường nhét cho bằng được vào cái căn hầm thiếu dưỡng khí XHCN của đảng ông. Thế mới đau chứ?
12 Tháng Mười 2019
Khổng Tử dùng “lời hay ý đẹp” tôn vinh kẻ sĩ, nhưng lại chê bai, mạt sát dân đen. Khổng Tử gọi thường dân là “tiểu nhân” – giai cấp nô lệ, phải phục tùng giai cấp thống trị một cách tuyệt đối. Xuyên suốt Luận Ngữ, Khổng Tử tin rằng quần chúng không đủ khả năng để hiểu và tham gia vào các vấn đề của nhà nước. Luận Ngữ 8.9 có trích, “Dân có thể khiến để làm theo, nhưng không thể khiến hiểu được,” (Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi). Rõ ràng, đặc điểm khinh bỉ quốc dân của các xã hội Nho giáo hoàn toàn trái ngược với các giá trị văn minh của dân chủ, nơi quyền lực thuộc về nhân dân.
10 Tháng Mười 2019
Thành thật mà nói chính những người lãnh đạo cao nhất của đảng csVN cũng thừa biết mình đang bịp người dân bởi vì làm gì có cái được gọi là thiên đường cs làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, mấy ông tổ, ông cố rầu xồm Mác Lê đã bị chính người dân xứ họ quăng vào thùng rác, tuy nhiên chính vì lợi ích cá nhân, quyền lợi nhóm cho nên họ vẫn tiếp tục ra rả tuyên truyền, tay phải thì chỉ về hướng cái bánh vẽ nhằm đánh lạc hướng người dân ngu trong nước còn tay trái thì bán nước, thu vén của cải cho cá nhân, gia đình của mình, vì thế họ không muốn đảng cộng sản sụp đổ vì điều đó đồng nghĩa với quyền lực của mình bị chấm hết.
06 Tháng Mười 2019
Ngoài ra cũng còn một số người khác tại Úc, Canada, Mỹ…, cũng đang mơ mộng hão huyền, họ mơ rằng mình có tài làm Thủ Tướng, làm quan chức, cứ thành lập chính phủ đi rồi…nhờ thế giới can thiệp để giải trừ cộng sản và họ sẽ về tiếp quản quê hương, leo lên những chức vụ quan trọng tiếp tục đè đầu cỡi cổ người dân không khác gì bọn cộng sản đang cầm quyền, cá biệt tại Mỹ cũng có một số kẻ tù hành đang tham gia làm chính trị, sorry quý vị đừng có làm những chuyện tào lao nữa, muốn tranh đấu thì hãy cỡi cái áo cà sa, áo choàng linh mục, ra đời kiếm sống như những người bình thường thì nói mới linh...
06 Tháng Mười 2019
Đi nhờ máy bay ả Ngân Đù chỉ là nói chống chế, thấy ra đây chỉ là phương cách làm ăn mới (bán vé) vượt biên, nói mới là so với lối cũ bán bãi, chứ không mới vì ‘Chúng tôi đã tổ chức hàng trăm cuộc như thế’. Câu nói của tên đít đỏ cộm cán này cho thấy sự thật, đây không là sự ra đi tầm thường của dân đen thiên đàng xã nghĩa vẫn thường tìm đường cứu đói, mà là của đứa đông bạc nhiều tiền. Chúng cần một chuyến hạ cánh an toàn cả người lẫn của (cướp), dĩ nhiên kẻ bán vé thừa biết có đi không về, của những kẻ ‘không thuộc thành phần đoàn ngoại giao của Quốc hội Việt Nam và không được cấp visa ngoại giao...