Người Tị Nạn và Việt Kiều

18 Tháng Ba 20159:26 CH(Xem: 8057)

Người Tị Nạn và Việt Kiều

EscapefromVietnam(1)

Lâm Văn Bé
 


Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng Sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ nầy mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác những danh từ nầy thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng trường hợp.


Người tị nạn.
Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng Sản đã gọi tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy. Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vựơt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ tự do, cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam lànhững con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốcvà các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bểcặn bả xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sửa cặn » . Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam: Những người di tản đáng bị chặt đầu.

Nhưng chẳng bao lâu, Cộng Sản hiện nguyên hình là bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng Sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, bọn đĩ điếm được cộng sản «nâng cấp» lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố Việt Kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng Sản. «Kiều» chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác haynước khác được dùng làm tỉnh từ cho những danh từ như «kiều dân» là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, «kiều bào» là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là «Việt kiều yêu nước».

Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng Sản có gian ý là muốn «tóm thâu» cái khối chất xám nầy là «con dân» của họ, còn đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về luật quốc tịch xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phéptừ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia của ông cha họ đã định cư, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa phép làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.

Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản. Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 , «Người VN định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch VN. Sau 5 năm từ khi luật nầy có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ VN tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch».

Sau 5 năm, chỉ có khoảng 6000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.

Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN giải thích «rộng rãi» theo luật rừng. Chính bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được CS phong cho chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội đã ví von : Việt Nam có một rừng luật và áp dụng luật rừng. 

Và cho đến đầu năm 2014, chính phủ VN vẫn còn khư khư giữ quan niệm cha chú nầy với người Việt tị nạn. Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài đã nhắn nhủ cho phái đoàn «Việt Kiều yêu nước» về quê ăn Tết, ông nhắc lại lời của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau : «Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị. Có bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản ... Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, coi cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai. (Xuân quê hương 2014 – danlambao 3/2/2014).

Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng Sản, họ không phải là Việt kiều mà là người Mỹ, người Canadiens, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ cộng sản.

Việt Kiều và Nghị Quyết 36.
Không người Việt tị nạn nào ngu xuẩn tự xưng mình là Việt kiều, nếu có, đó là những Việt kiều yêu nước. Tưởng cần biết qua lai lịch của những Việt kiều yêu nước nầy.

Đa số những Việt Kiều nầy là những sinh viên xuất ngoại du học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nhờ học bổng của Plan Colombo hay các quốc gia Âu Mỹ. Từ cuối năm 1970, một số con em của những người có thế lực, nhà giàu cũng được xuất ngoại tự túc. Những sinh viên có học bổng sau khi hết học bổng không chịu về nước vì sợ đi quân dịch, nên tìm cách ở lại tại các quốc gia đã du học một cách bất hợp pháp. Phương thức thông thường là kết hôn với người dân sở tại để có quốc tịch, và để biện minh cho hành động hèn nhát, họ chạy theo các phong trào sinh viên phản chiến ở Pháp, Mỹ, Canada để chống chiến tranh Việt Nam mà theo họ là do Mỹ và chế độ quân phiệt miền Nam chủ động. Họ được cộng sản lợi dụng để tuyên truyền và được phong danh hiệu là Việt kiều yêu nước. Sau 1975, nhiều đám sinh viên phản chiến phản quốc nầy từ Nhựt, Âu châu, Mỹ chạy sang Canada xin tị nạn cùng lúc với thân nhân của họ vừa di tản đến. Họ trương cờ đỏ sao vàng ở những tụ điểm của họ, một số xin về nước để lấy uy với bạn bè, nhưng chính phủ cộng sản lạnh lùng với họ, có khi còn bắt họ bởi lẽ cộng sản dư biết những Việt kiều yêu nước nầy chỉ là bọn hèn, theo đóm ăn tàn.

Từ cuối thập niên 1990 xuất hiện thêm một số Việt kiều yêu nước già, nguyên gốc là HO, có học và vô học, vì không hội nhập được vào xã hội định cư nên đi đi về về Việt Nam để sống với tiền xã hội của quốc gia định cư, một số khác thất nghiệp muốn về VN để kiếm việc, làm ăn buôn bán. Để đạt được ý định, họ lập công với cộng sản bằng những mưu chước hèn hạ, phản bội lại đồng hương và đồng đội họ, xâm nhập vào các hội đoàn, cơ quan ngôn luận để quấy phá. Nghị Quyết 36 nhờ sự tiếp tay của những Việt Kiều trở cờ phản bội nầy.

Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường những tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị. Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại về nước và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm:

- Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
- Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
-Thu góp tiền bạc và chất xám
- Biện pháp đối với các thành phần chống lại chánh phủ và Đảng ở hải ngoại
- Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất gian xảo, trịch thượng . Làm sao CS có khả năng và uy tín giúp người Việt hải ngoại trong cuộc sinh sống trong khi họ đã đẩy đa số người dân trong nước đến chổ bần cùng và mất cả đạo lý, và càng tệ hại hơn, họ xuất cảng tệ trạng ăn cắp tràn lan tại những nơi mà cán bộ của họ đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điễn, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu : Cảnh cáo Ăn cắp vặtNo dogs, no Vietnamese.

Họ nói giúp người tị nạn đoàn kết với nhau, nhưng thực sự họ đưa công an và Việt kiều yêu nước xâm nhập các đoàn thể để gây đố kỵ, đánh phá nhau. Chuyện thu góp tài sản thì quá rõ, từ việc gởi tiền đến Việt kiều du lịch mang về nước tiêu xài cung cấp cho cộng sản 12% GDP, duy chỉ có chuyện thu góp chất xám là một cuộc thảm bại .

Một số tác hại của NQ 36 đã thấy rõ trong một số công tác chiến lược như sau:

- Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền
Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng cộng sản. Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống cộng.

Trong đại hội «Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36 và công tác đối với người Việt nước ngoài» ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Quý đã có chỉ thị rõ rệt «…Cần sớm có quy chế về việc dạy tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…»

Xâm nhập các cơ quan truyền thông
Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn để mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ hai từ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012 ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã nói rõ chương trình hành động: «Tăng cường công tác thông tin đối ngoại , tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triễn lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động từ thiện, du lịch, sinh hoạt khoa học, sinh hoạt các nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại…» 

Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels (Bộ Trưởng Thông tin Tuyên truyển của Đức Quốc Xã) : Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu người ta không tin, lần lần người ta bán tin bán nghi sau cùng người ta tin là sự thật. Internet và báo chí là những phương tiện hữu hiệu dể chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi lực lượng chống cộng. để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều - Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

Nhưng Cộng Sản có hai bộ mặt chồng chéo nhau : dịu ngọt và bạo lực.

Tạp chí Cộng Sản gần đây đã viết: «…Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẻ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta …» (TCCS. Phát huy vai trò của Cộng đồnghttp://tapchicongsan.orgvn ngày 28/05/2013)

Chánh sách vừa chiêu dụ vừa khủng bố của Cộng Sản đã có tác dụng phần nào trên các vùng đất có người Việt định cư ở Bắc Âu và Đông Âu, nơi có đông đảo người lao động xuát khẩu, di dân bất hợp pháp và du sinh. Trong thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36: «… Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực các thế lực thù địch…». Mười ba cộng đồng cộng sản nầy là : 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều lao động xuất khẩu (Hàn Quốc, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ – ( chú thích: tại Thụy Sĩ còn có một cộng đồng chống Cộng của người Việt tị nạn). Các chủ tịch các cộng đồng nầy là người cộng sản, chỉ làm bù nhìn, việc điều khiển Cộng Đồng do sứ quán hay tòa lãnh sự đảm nhiệm theo quyết định Q12 năm 2008 (Mobiliser les Vietnamiens à l’étranger, p.50).

Ngày 18 tháng 8 , 2014, Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc «mạn đàm» tại Praha (Tiệp Khắc) qui tụ những nhân vật cao cấp của Bộ Chính Trị từ trong nước và các đại sứ, đại diện 14 cộng đồng người Việt ở Đông Âu, Bắc Âu , kể cả Thụy Sĩ, Anh, Bỉ để «trao đổi công tác xây dựng tổ chức, vận động quần chúng, lôi cuốn giới trẻ tham gia và phát huy các sinh hoạt cộng đồng»

- Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện
Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy, Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm «phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống». Từ mươi năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

Người Việt ở hải ngoại
Ngoài ra, chúng ta thường có thói quen gọi chúng ta thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại (diaspora) mà Cộng Sản gọi làngười Việt nước ngoài. Nếu từ ngữ nầy đúng với tất cả các sắc tộc khác nhưng đối với người Việt, có khi không đúng hẳn bởi lẽ trong số người Việt hải ngoại lại có thêm những người không phải là người tị nạn. Đó là những người xuất khẩu lao động, di dân kinh tế hợp pháp và bất hợp pháp, các du học sinh thân cộng hay theo Cộng. Hiểu như vậy, sự chính xác của từ ngữ sử dụng cần phân biệt theo nội dung và hoàn cảnh.

Bảng 1- Tổng số người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại

Quốc gia

Số người

Nguồn

Hoa Kỳ

1 548 450

US Census 2010

Úc

233 390

Census Explorer 2011

Canada

220 420

Canada Census 2011

Pháp

200 000

Các nhà biên khảo ở Pháp

Đức

125 000

Wikipedia và một số nguồn liệu

Anh

65 000

UK Census 2011& phỏng định

Tây/Bắc Âu

100 000

Các nguồn từ địa phương

Tổng cộng

2 492 260

Nguồn: Lâm Vĩnh Bình. Giá Tự Do

Bảng 2Số người Việt xuất khẩu lao động, du sinh, định cư 
hợp pháp và bất hợp pháp tại hải ngoại (Việt Kiều)

Đông Âu

Số người

Á Châu

Số người

Nga

46 000

Đài Loan

180 000

Tiệp Khắc

50 000

Hàn Quốc

120 000

Ba Lan

20 000

Mã Lai

85 000

UKraine

10 000

Trung Quốc

30 000

Slovakia

5 000

Nhựt

38 000

Áo

5 000

Cambốt

600 000

Hungary

4 000

Thái Lan

100 000

Azerbeijan

10 000

Trung Đông

10 000

Lào

20 000

Angola

40 000

Bangladesh

27 000

Cộng

200 000

Cộng

1 200 000

Tổng cộng : 1 400 000

Nguồn :
- Người Việt ờ nước ngoài www.vietkieu.info;
- Wikipedia,
- Migration Policy Institute.
- World Facts Book

Chú thích :

Bảng thống kê trên, tuy xuất xứ từ các cơ quan thẩm quyền nhưng chỉ là những con số ước lượng gồm có:

- 700 000 người Việt ở Cambốt, Thái Lan và Lào là người Việt đã sống lâu đời nhiều thế hệ tại các quốc gia nầy, đại đa số đã nhập tịch. Về người Việt ở Cambot, số thống kê chỉ là phỏng định vì quốc gia nầy không có thống kê. Theo Wikipedia, và World Facts Book, người Cambốt gốc Việt chiếm 5% dân số tức khoảng 600 000 người. Bertrand Didier trong bài Vietnamiens au Cambodgevà Annuska Derks trong A picture of the Vietnamese in Cambodia trình bày chi tiết các giai đoạn di cư, định cư, diện mạo của người Việt ở Cambốt (có thể đọc online).

Migration Policy Institute thiết lập thống kê người di dân VN (immigrants) vào tháng 9 năm 2013 dựa vào ước lượng của United Nations Population Division công bố một con số thấp hơn chỉ gồm người di cư xuất khẩu lao động: Cambot: 37 000, Lào: 11 000, Thái Lan: 6000.

- 700 000 người ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Nhựt, Trung Quốc, Đông Âu , Nga, Bangladesh, Trung Đông và Phi Châu. Dân số VN tại các quốc gia nầy thuộc nhiều diện khác nhau:

- một số là cư dân hợp pháp phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai và những du học sinh tại các quốc gia Đông Âu, Nga, được nhập tịch tại các quốc gia nầy
- một số là người xuất khẩu lao động và cư dân bất hợp pháp.

Như vậy tổng số người Việt ở hải ngoại là :
- Người tị nạn Cộng sản: 2.500 000 người (số tròn) Bảng 1
- Người Việt di cư kinh tế, xuất khẩu lao động, du học sinh, định cư bất hợp pháp: 1 400 000 người Bảng 2 

Tổng cộng số người Việt ở hải ngoại: 3 900 000 người. 

Một cách dễ nhớ: 4 triệu người.

Nguồn : Lâm Vĩnh Bình, Giá Tự Do

Về tổng số người Việt ở hải ngoại, thống kê của nhiều người viết, ngay cả những nhà nghiên cứu khoa bảng thường có khuynh hướng khuếch đại con số, bởi lẽ thay vì sử dụng thống kê chính thức của các quốc gia sở tại, họ lại sử dụng những thống kê của Cục Người Việt nước ngoài của Cộng Sản mà bản chất là gian dối, thiếu chính xác. Đan kể như luận án tiến sĩ : Mobiliser les Vietnamiens de l’étranger : enjeux, stratégies et effets d’un nationalisme transnational của Christophe Vigne do Institut de recherche sur l’Asie du Sud-Est contemporaine (IRASEC) xuất bản năm 2012 cho biết là người Việt ở hải ngoại là 4.3 triệu người trong đó người Việt ở Mỹ là 2.2 triệu (thay vì 1.5 triệu) và ở Canada là 250 000 (thay vì 220 000). «Le RSVN estime à environ 4.3 M le nombre de Vietnamiens résidents à l’étranger. La communauté vietnamienne des États-Unis est de loin la plus nombreuse avec 2.2M de personnes. Environ 250 000 Viet Kieu vivent au Canada, 120 000 en Allemagne et 60 000 en Russie…(p. 13).

Kết luận
Chúng tôi vừa phân tích hai từ ngữ người tị nạn và Việt kiều để phân biệt hoàn cảnh lúc ra đi và vị trí chính trị đối với chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khi phải nhắc đến một từ ngữ khác có chữ kiều là kiều hối (mà cộng sản dùng thay cho danh từ ngoại tệ), cái biên giới giữa người tị nạn và Việt Kiều như không còn nữa bởi cả hai đều dùng kiều hối để nuôi dưỡng và củng cố chế độ trong nước.

Thật vậy, kể từ khi Clinton bắt tay với VN năm 1995, người Việt tị nạn về nước ào ạt vì đủ thứ lý do, thăm gia đình, du lịch, du hí… Thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù, và trên đất mới, sau đó cũng không bao lâu, họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN để chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim kiều hối chỉ trong hai thángNgoài raviệc gởi tiền về VN triền miên từ 40 năm nay để nói là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số kiều hối khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân cộng?

Theo Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Central Institute for Economic Management CIEM), « tính từ năm 1991 đến 2013, lượng kiều hốigởi về hơn 90 tỷ mỹ kim, là chiếc phao cứu tinh cho nhiều doanh nghiệp và là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Số tiền trên không kể đến 28% «kiều hối chui» không qua đường dây chính thức và những khoản tiền tiêu khi Việt kiều về thăm nhà. Chỉ năm 2013, số kiều hối gởi về là 11 tỷ. Mỹ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất (57% trong tổng số kiều hối chính thức), kế đó là Úc (khoảng 9%), Canada (8%), Đức (6%), Pháp (4%) . Kiều hối là nguồn vốn thứ hai tại VN sau FDI (chú thích của người viết: Foreign Direct Investment là tiền ngoại quốc đem vào VN đầu tư) giúp tăng tiết kiệm, đầu tư, giảm nợ, cải tiến bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giúp ổn định tỉ giá, cán cân thanh toán và tăng dự trử ngoại hối . Tóm lại, kiều hối dùng để trả sinh hoạt hằng ngày, đầu tư vào sản xuất kinh doanh và trả nợ». (Cứu tinh của nền kinh tế VN /Alan Phan - ngày 18/12/2014.)

Thông tin trên phát xuất từ một cơ quan kinh tế chiến lược đầu não của cộng sản đã cho thấy không phải là nhóm Việt kiềuĐông Âu, hay nói chung những Việt kiều thân Cộng đã gởi tiền về nước để nuôi chế độ mà chính đa số làngười tị nạn. Chỉ tại 5 quốc gia có đông đảo người tị nạn, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã đóng góp hàng năm cho cộng sản VN 84% ngoại tệ. Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng tài trợ cho Việt Cộng. Giải quyết cái phi lý nầy phải là chuyện số một phải làm, tuy đã muộn màng lắm rồi, trước khi nói đến những chuyện tranh đấu khác.

Lâm Văn Bé

http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=5209:ngi-t-nn-va-vit-kiu&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

š›

 
š›
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Năm 202110:25 CH(Xem: 562)
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc dường như nó có một quy luật, đó là sau khi trúng cử thì tổng bí thư Việt Nam sẽ sang Trung Quốc hành lễ trước rồi mới mời được tổng bí thư Trung Quốc sang. Không biết đây có phải là quy tắc bất thành văn để đàn em hành lễ với đàn anh hay không?! Liệu đây có phải là điều kiện mà phía Trung Quốc đặt ra là lãnh đạo Việt Nam phải sang tận nơi mời lãnh đạo Trung Quốc hay không?!
25 Tháng Năm 202110:46 CH(Xem: 625)
Trong một xã hội vì đồng tiền thì ai ai cũng kiếm càng nhiều tiền càng tốt. Khi người ta xem nhẹ giá trị tinh thần và xem trọng sức nặng đồng tiền thì ắt họ sẽ bị đồng tiền dẫn dắt vượt qua nhiều ranh giới. Vì tiền thì họ sẽ không còn biết đâu là ranh giới dành cho lòng tự trọng, đâu là ranh giới dành cho sự tử tế, đâu ranh giới dành cho sự lương thiện. Việc kiếm tiền bằng cách tiếp tay cho thuốc không rõ nguồn gốc, kiếm tiền dựa trên tai họa của đồng bào vv... chính là thế, họ đã bị tiền làm quên mất các lằn ranh kia. Họ say sưa lao theo đồng tiền vì cả xã hội như vậy, vì chính quyền này...
25 Tháng Năm 202110:45 CH(Xem: 628)
Khi một nhà máy ngưng hoạt động thì dẫn đến người công nhân bị thất nghiệp, tại các quốc gia khác họ có thể lãnh tiền thất nghiệp, bảo đảm được cuộc sống chờ đến khi an toàn, còn tại Việt Nam thì đừng nên mơ điều đó, ai đói ráng chịu, quá lắm thì đảng thí cho vài thùng mì gói, nhu yếu phẩm cũng không quên kéo theo bọn lâu la truyền thông làm rùm beng lên rằng đảng có quan tâm, sau đó hết thì chết đói ráng chịu, một ngôi chợ ngưng hoạt động sẽ kéo theo rối loạn xã hội, vật giá leo thang do bị đầu cơ, và những lĩnh vực khác cũng chung số phận....
25 Tháng Năm 202110:43 CH(Xem: 453)
Vì dựa trên con người biết Tu dưỡng. Cơ Năng Hiến Pháp dựa trên Quốc Dân Đoàn, Công Dân Tầng. Biết bao giờ mới có những công dân biết tu dưỡng? Tu dưỡng không phải chỉ học một khóa tu nghiệp 6 tháng là xong. Đó là một tiến trình theo đuổi suốt cuộc đời. Ở trình độ thấp thì còn khả dĩ. Trong các cấp lãnh đạo chính quyền thì trình độ tu dưỡng phải cao hơn. Làm sao có những con người chính trị với khả năng tu dưỡng cao cấp? Lấy thước đo nào để quyết định? Phải chăng là chủ nghĩa Duy Dân? Đảng Duy Dân có thành hình được không nếu không có cán bộ các cấp?
24 Tháng Năm 202111:10 CH(Xem: 473)
Trước khi đi vào chi tiết của Cơ Năng Hiến Pháp, chúng ta phải dựa vào 2 đầu mối của Duy Dân: Cơ Năng Hiến Pháp và cấu trúc của chính quyền Duy Dân. Quyền chế của Cơ Năng Hiến Pháp không phải là phân quyền (ngoại trừ quân đội Hải, Lục, Không phải phân quyền hầu tránh tình trạng quân đội đảo chính) như các chế độ Tây Phương mà là Đan Quyền. Để hiểu LĐA thiết kế Đan Quyền trong cấu trúc chính quyền, chúng ta phải nhìn lại vai trò của từng bộ phận trong cấu trúc chính quyền Duy Dân có ảnh hưởng trong việc thực hiện dân chủ qua chính trị, kinh tế và xã hội theo...
24 Tháng Năm 20211:01 CH(Xem: 449)
Lý Đông A quan niệm “giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị”. Có nghĩa là giáo dục phải khởi đầu cho mọi vấn đề và cái giáo dục đó sẽ đóng góp vào việc chính trị theo nghĩa thiết kế và chấp hành nhân sinh chứ không phải chính trị theo nghĩa tranh giành quyền lãnh đạo, ăn trên ngồi trước. Không có một con người tự chủ thì khi có quyền lãnh đạo sẽ dễ bị ma quyền quyến rũ và từ đó tạo ra độc tài mà hình ảnh ông Trump trong kỳ bầu cử năm 2020 là thí dụ điển hình để chứng minh ma quyền điều khiển ông Trump như thế nào trong khoảng thời gian sau bầu cử. Tuy rằng...
23 Tháng Năm 202110:59 CH(Xem: 504)
Mới đây, báo chí Việt Nam đồng loạt đăng một bài viết dài của ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, với nội dung “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đọc bài viết dài này của ông Nguyễn Phú Trọng, bất kỳ sinh viên Việt Nam nào cũng thấy quen thuộc trước các luận điệu này, vì nó giống như các bài giảng chính trị thường gặp ở trong các chương trình đào tạo ở Việt Nam, mang tính giáo điều, sáo rỗng và lạc hậu. Mặc dù là người có thủ đoạn chính trị cũng “không phải dạng vừa”, nhưng bài viết này cho thấy sự bế tắc trong lý luận về chủ nghĩa xã hội...
23 Tháng Năm 202110:54 CH(Xem: 566)
Sau năm 1975, CS hành hạ những đồng bào mà họ gọi là “ngụy quân ngụy quyền” tạo ra làn sóng tị nạn CS thương tâm. Trong số những người bỏ chạy đó họ phải đánh cược mạng sống với biển cả để tìm đến bến bờ tự do. Điều trớ trêu là lớp người bỏ chạy đó giờ đây họ rót về Việt Nam hàng chục tỷ đô la mỗi năm, trong khi đó khối doanh nghiệp trong nước thì làm chảy ngoại tệ ra nước ngoài hàng chục tỷ đô la mỗi năm. Cuối cùng kẻ nuôi nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn là “bọn ăn bơ thừa sữa cặn” (từ mà CS miệt thị đồng bào tị nạn CS). Nếu không có kiều hối e ĐCS không đủ....
22 Tháng Năm 202110:39 CH(Xem: 430)
Tiền là biển, biên độ giao động của tiền là sóng, còn nền kinh tế đất nước là con tàu đi trên biển. Nếu biển bình yên chỉ có loại sóng lăn tăn thì con tàu kinh tế bon bon đi tới, nếu sóng lớn thì nó sẽ làm chao đảo con tàu kinh tế, nếu sóng quá lớn nó sẽ nhận chìm luôn con tàu kinh tế. Với biên độ dao động như bitcoin thì đó là “sóng thần”, thử hỏi nền kinh tế nào tồn tại với loại tiền này được? Vì vậy muốn cho nền kinh tế phát triển thì trước hết ngân hàng trung ương của quốc gia đó phải ổn định giá trị đồng tiền. Mà muốn ổn định giá trị đồng tiền thì chỉ có nhà nước mới làm được...
22 Tháng Năm 202110:35 CH(Xem: 432)
Từng là nguyên thủ quốc gia, hiện vẫn còn đứng đầu ĐCSVN, vậy mà TBT lý giải mối quan hệ giữa CNXH và thị trường thật kỳ quặc. Thời kỳ quá độ, ông viết CNXH buộc phải công nhận kinh tế thị trường, nhưng ông gắn cho nó cái đuôi định hướng XHCN. Nhưng mỗi khi các đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam ra nước ngoài, bao giờ cũng nằn nì cho kỳ được sở tại ghi vào tuyên bố chung, là công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, hẳn nhiên là đành xoá cái đuôi XHCN đi. Ở đây, vừa có ngầm ý “lộng giả thành chân”, nhưng cũng không dấu mưu đồ “vỗ béo để làm thịt”.
14 Tháng Sáu 2021
Trừ một số người kinh doanh hoặc quan chức, phần lớn dân Việt Nam là nghèo. Người nghèo buôn bán kiếm ăn từng bữa không có vốn liếng trường kỳ. Chế độ bảo hiểm, phúc lợi xã hội của Việt Nam quá yếu ớt, gần như người dân không thể trông chờ. Quỹ hỗ trợ thất nghiệp, thất thu do dịch bệnh cho người dân và cho cả doanh nghiệp được đánh giá là “chỉ thấy trên tivi). Vì thế, đóng cửa lâu thì doanh nghiệp chết, người làm thuê và người lao động nghèo cũng “chết” theo...
12 Tháng Sáu 2021
Các con có công nhận, quan chức Ta khôn, quan chức Tây “đần" không? “Đần” thế sao giàu được! Muốn giàu thì phải có lý luận như nói ở trên và có cái KHÔN đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam như các bác lãnh đạo đã vận dụng. Nhờ đó quan chức của ta lương cao nhất cũng chỉ chừng 20 triệu, tức chưa được 1.000 usd, vậy mà ai cũng xe hơi, nhà lầu, kẻ hầu người hạ, của ăn của để, cho con du học… Còn cái gì khó đã có dân: “khó vạn lần dân liệu cũng xong" mà! Lãnh đạo thế mới tài tình chứ!
11 Tháng Sáu 2021
Việc cho phép đồng bitcoin thanh toán như là đồng tiền chính thức ấy nó chỉ có cái lợi duy nhất là đất nước này vét được đồng tiền bẩn từ nước ngoài, nhưng ngược lại nó hạn chế khả năng ứng phó của ngân hàng trung ương trước tình huống nền kinh tế gặp khủng hoảng. Và điều quan trọng hơn, nền kinh tế El Salvador có thể bị sự trồi sụt thất thường của loại đồng tiền này tàn phá. Đây là một nguy hiểm khôn lường. Ông tổng thống 39 tuổi này đã “thả con tôm bắt con tép” rất thiếu sáng suốt hoặc có thể ông ta chịu áp lực ngầm nào đấy bởi bọn tội phạm có tổ chức.
10 Tháng Sáu 2021
Cái danh hão “mục tiêu kép” (vừa phát triển kinh tế tốt vừa chống dịch giỏi) mà ĐCS đang đưa ra để tuyên truyền nó chính là cái bẫy làm cho Việt Nam trở thành viên gạch lót đường để Tàu bước lên đấy mà tiến vào thị trường Mỹ. Với tình hình dịch bệnh như hiện nay, không một quốc gia nào phát triển kinh tế tốt được, tuy nhiên ĐCS muốn mình “làm được những gì thế giới không thể làm” nên họ đã mở toang cửa để hàng Tàu ào ạt tràn vào dán mác “made in Vietnam” rồi xuất sang Mỹ để kiếm ưu đãi. Trung Quốc kiếm tiền bỏ túi còn CS Việt Nam kiếm tiếng để lừa nhân dân...
08 Tháng Sáu 2021
Còn chuyện giá thuốc cũng là trò hề của chính trị Mỹ. Các nhà bào chế (pharma) kêu rằng vì nghiên cứu lâu, phí tổn cao nên giá thuốc đắt. Thế nhưng thực tế cho thấy có thuốc sản xuất đã lâu, tới kỳ bệnh phát khắp nơi, nhu cầu tăng vọt thì công ty tăng giá gấp 10%, 1000%, 7000%... lý do gì ngoài lòng tham vô đáy? Nếu vì tốn công thì chính quyền có thể quy định luật cho phép thời gian lấy lại vốn, cũng như giới hạn phần trăm lời mỗi năm chứ không thể thu lời hàng chục tỷ nhưng đến khi bị kiện tụng vì tai biến của thuốc thì khai phá sản, ôm tiền bỏ chạy...
07 Tháng Sáu 2021
Chúng ta thường nghe lý luận: súng không tự nó giết người chỉ có người mới xiết cò súng và giết người. Vậy lỗi tại người chứ không phải tại cây súng. Loại lý luận cùn này vẫn còn được nghe cho tới ngày nay (2020). Không thấy ông tòa, phóng viên, giáo sư đại học, các nhà chính trị... lên tiếng nói rằng: Ai chế ra súng? Con người chế ra súng để giết sinh vật. Nếu súng có giá trị vũ khí như dao thì ai cũng có. Khi cả hai bên đều có súng thì chuyện gì xảy ra? Giết người như cơm bữa khi súng dùng thay luật lệ, cảnh sát. Vậy thì cảnh sát, luật để làm gì khi dân có súng?
07 Tháng Sáu 2021
Khi bạn về hưu thì số tiền tối đa mà sở an sinh xã hội cho bạn mỗi tháng là 3,770 đô la cho năm 2019. Số tiền này không phải ai cũng được mà là dựa vào số tiền lương mà bạn đã làm, đã đóng vào trong quỹ an sinh xã hội. Bạn làm ít thì bạn sẽ nhận tiền ít. Bạn làm nhiều thì bạn sẽ nhận tối đa con số bên trên. Dĩ nhiên đây là con số rất lớn dành cho những người không có tài sản, không phải thuộc loại giàu có khi họ về hưu, không đi làm. Còn đối với những nhà triệu phú ở Mỹ, khi họ về hưu, đồng tiền của họ vẫn tiếp tục thu vào dù họ không đi làm bởi họ bỏ tiền vào một công ty nào đó....
05 Tháng Sáu 2021
việc TQ chứng minh tính hiệu quả vắc xin của họ với WHO là một chuyện, nhưng những lô hàng xuất qua Việt Nam có chất lượng như thế nào? Không loại trừ một giả thuyết loại vắc xin này có công hiệu nhất thời chế ngự virus nhưng trong đó có một loại hóa chất hủy diệt cơ thể con người phát tác sau nhiều năm. Một kế hoạch thủ tiêu một dân tộc cứng đầu chống đối TQ xưa nay là điều mà TQ luôn nhắm tới, tất nhiên đây chỉ là giả thuyết, tuy nhiên với những gì đã từng xảy ra trong giòng lịch sử cho thấy đây là một giả thuyết có cơ sở (dù không đủ mạnh), nhưng đó là điều người Việt Nam phải dè chừng...
05 Tháng Sáu 2021
Chiến dịch chích ngừa vaccine của các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và quốc gia Bahrain, được xem là những chiến dịch nhanh nhất trên thế giới, đến nay họ đã chích ngừa trên 50% tổng dân số. Tuy nhiên, họ vẫn không kiểm soát được đại dịch COVID-19, số lượng người nhiễm bệnh mỗi ngày vẫn ở mức cao, chưa có xu hướng giảm. Hầu hết các mũi chích ngừa của các quốc gia này đều chủ yếu dựa vào vaccine Sinopharm của Trung Quốc, loại vaccine được cung cấp cho tất cả người dân kể từ cuối năm 2020.
03 Tháng Sáu 2021
Cuộc bầu cử giả hiệu ngày 23/5 vừa qua được ví như là một kho xăng, còn mỗi bệnh nhân nhiễm Covid – 19 là một đốm lửa. Nếu chính quyền CS không lấy đóm lửa đó quẳng vào kho xăng thì làm sao xăng bùng cháy giữ dội như hôm nay? Dù cho chính quyền này đang biến Hội Truyền Giáo Phục Hưng thành bao cát để xã hội trút giận thì bản chất vấn đề vẫn không thay đổi. Sự thật vẫn là do ĐCS đã ép mồi lửa phải châm vào xăng cho ngọn lửa dịch bùng phát chứ không ai khác. Việc cho báo chí đồng loạt tố Hội Truyền Giáo Phục Hưng là hành động gắp lửa bỏ tay người...