Nhân cách Tướng Quân : THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ

13 Tháng Tư 201510:23 CH(Xem: 15801)
NHÂN CÁCH TƯỚNG QUÂN : THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ
HLTL

1frd
anhhung03_jpg_w180h257
Anh Hùng Dân Tộc
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tư Lệnh Quân Đoàn 2 
 
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông, Bắc Việt. Sau khi tốt nghiệp học khóa 8 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt vào giữa năm 1953, ông đã tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù. Ngày 14 tháng 3/1954, trong tình hình chiến trường Điện Biên Phủ vô cùng sôi động, ở cấp bậc Trung Úy ông đã chỉ huy một đại đội của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, nhảy xuống Natasha, một vị trí sát phi đạo chính. Sau hơn một hơn tháng liên tục giao tranh với Việt Minh, ngày 16 tháng 4/1954, Trung Úy Phạm Văn Phú đã chỉ huy một thành phần của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù cùng với các đơn vị bạn phản công tái chiếm một cứ điểm trọng yếu. Sau trận phản công này, ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận khi vừa đúng 25 tuổi, và đến ngày 26 tháng 4/1954, được cử giữ chức Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ thất thủ, ông bị địch quân bắt giam. Sau 20/7/1954 (Hiệp định Genève), ông được trao trả và tiếp tục phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Năm 1960, được tuyển chọn để phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm 1962, thăng cấp Thiếu Tá và giữ chức vụ Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Quan Sát 77 Lực Lượng Đặc Biệt. Giữa tháng 5/1964, ông đã chỉ huy liên đoàn này đánh tan Trung Đoàn 765 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tại Suối Đá, Tây Ninh. Gần cuối năm 1964, ông được thăng Trung Tá và giữ chức tham mưu trưởng Lực Lượng Đặc biệt. Một năm sau, ông được thăng Đại Tá nhiệm chức.

Đầu năm 1966, không hiểu vì lý do gì, ông bị vị Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt trình Bộ Quốc Phòng thâu hồi cấp Đại Tá nhiệm chức và thuyên chuyển ra miền Trung, giữ chức Phụ Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, giữa năm 1966, ông là Đại Tá Tư Lệnh Phó, xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Đoàn này. (Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh là Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, được cử giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 1 Vùng 1 Chiến Thuật vào cuối tháng 5/1966). Cuối năm 1966, ông được điều động ra Sư Đoàn 1 Bộ Binh làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn. Giữa năm 1968, được cử giữ chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu 44 (bao gồm các tỉnh biên giới ở miền Tây Nam phần). Năm 1969, được thăng cấp Chuẩn Tướng tại mặt trận. Đầu năm 1970, chuẩn Tướng Phú được cử thay thế Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng trong chức vụ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc biệt.

Gần cuối tháng 8/1970, Tướng Phú được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng, được cử giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 4. Tháng 3/1971, ông được thăng Thiếu Tướng tại mặt trận sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào (ngoài Tướng Phú, có hai Đại Tá được thăng cấp chuẩn tướng: Đại Tá Vũ Văn Giai -- Tư Lệnh phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Đại Tá Hồ Trung Hậu -- Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Nhảy Dù). Trong cuộc chiến mùa Hè 1972, ông đã điều động, phối trí các trung đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế. Do điều kiện sức khỏe, đến tháng 9/1972, ông bàn giao Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Đại Tá Điềm, Tư Lệnh Phó, xử lý thường vụ. Từ 1973 đến tháng 10/1974, ông giữ chức chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 11/1974, thể theo đề nghị của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh cử ông giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2 thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. (Tướng Toàn trở lại binh chủng Thiết giáp, giữ chức chỉ huy trưởng).

Nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 không phải do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lựa chọn, hoặc do Đại Tướng Cao Văn Viên -- Tổng tham mưu trưởng -- đề nghị, nên Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự cao cấp phụ tá ông để điều hành bộ Tư Lệnh. Thông thường, các Tư Lệnh Quân Đoàn được quyền chọn lựa tham mưu trưởng, sau đó, bộ Tổng tham mưu sẽ ban hành quyết định hợp thức hóa, thế nhưng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã bị bộ Tổng tham mưu "hạn chế" các quyền hạn dành cho Tư Lệnh Quân Đoàn. Khi Tướng Phú nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn 2, vị tham mưu trưởng đương nhiệm là Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm. (Trong thời gian từ 1967 đến tháng 6/1968, khi Tướng Phú còn mang cấp Đại Tá và giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh thì tướng Cẩm còn là Trung Tá, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn này).

Trong những tuần lễ đầu tiên, Tướng Phú đã hai lần đề nghị hai vị Đại Tá giữ chức vụ tham mưu trưởng Quân Đoàn thay chuẩn tướng Cẩm được bổ nhiệm làm Phụ Tá Hành Quân Tư Lệnh Quân Đoàn 2, nhưng cả hai lần đều bị Trung Tướng Đồng Văn Khuyên tham mưu trưởng Liên quân trình với Đại Tướng Cao Văn Viên bác bỏ. Cuối cùng, theo đề nghị của Trung Tướng Khuyên, Đại Tướng Cao Văn Viên đã bổ nhiệm Đại Tá Lê Khắc Lý, nguyên tham mưu trưởng bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Dù vị tham mưu trưởng không do mình chọn lựa, nhưng Tướng Phú đã tin dùng và ủy nhiệm cho Đại Tá Lê Khắc Lý nhiều quyền hạn trong việc điều hành Bộ Tư Lệnh.

Trước khi cuộc chiến Cao Nguyên (năm 1975) bùng nổ, Tướng Phú được Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn trình bày về các khả năng Cộng quân sẽ mở cao điểm tại Ban Mê Thuột, thế nhưng không hiểu vì sao, Tướng Phú không tin và nhận định rằng Pleiku mới là chiến trường trọng điểm, còn Ban Mê Thuột là mặt trận phụ mà Cộng quân muốn tạo thế trận nghi binh. Trận chiến Ban Mê Thuột đã bùng nổ vào rạng sáng ngày 10 tháng 3/1975. Bốn ngày sau, vào trưa ngày 14 tháng 3/1975, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ Quân Đoàn 2 khỏi Cao nguyên.

Sau khi lực lượng Quân Đoàn 2 triệt thoái khỏi Nha Trang, 1 giờ 45 trưa ngày 2 tháng 4/1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú và vài sĩ quan thân tín đã bay đến ngọn đồi "Lầu Ông Hoàng" để chờ Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu -- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 -- tới nhận bàn giao phần lãnh thổ cuối cùng của Quân Khu 2 được lệnh sát nhập vào Quân Khu 3. Vào giờ phút đó, quanh Tướng Phú chỉ có: Đại Tá Đức --nguyên Phụ Tá Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đặc trách lực lượng diện địa; Thiếu Tá Vinh, chánh văn phòng; Thiếu Tá Hóa, sĩ quan tùy viên, và Thiếu Tá Phạm Huấn, sĩ quan Báo chí. Chính tại đây, Tướng Phú đã có quyết định tự sát, nhưng Đại Tá Đức đã kịp thời cản ông. Theo lời kể của Thiếu Tá Phạm Huấn, vào lúc 2 giờ 12 phút cùng ngày, Thiếu Tá Hóa tới trình cho Tướng Phú là trực thăng của Tướng Hiếu sắp đáp xuống. Khi đó, Thiếu Tá Huấn đứng gần Tướng Phú, thấy đôi mắt Tướng Phú như muốn tóe lửa. Và sau khi Thiếu Tá Hóa quay gót, Tướng Phú vất điếu thuốc lá đang cầm trên tay xuống đất. Rất nhanh, ông rút khẩu súng ngắn nòng ra khỏi vỏ. Nhưng tiếng hét thất thanh của Đại Tá Đức: "Thiếu Tướng". Khẩu súng trên tay Tướng Phú bị gạt bắn xuống đất. Sự việc này xảy ra quá bất ngờ...

Giữa tháng 4/1975, Tướng Phú lâm bệnh, vào điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ngày 15 tháng 4/1975, Đại Tá Phạm Văn Chung, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, nguyên tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Quảng Nam, đã vào thăm Tướng Trưởng và Tướng Phú đang nằm dưỡng bệnh. Chính trong lần thăm này, Đại Tá Chung đã nghe Tướng Phú trăn trối, và kể lại như sau:
Rời phòng Trung Tướng Trưởng, tôi (Đại Tá Chung) qua phòng kế bên cạnh là phòng của Thiếu Tướng Phú, cũng đang nằm dưỡng bệnh kế đó. Bước vào phòng tôi thấy Thiếu Tướng Phú đứng dậy ngay và bắt tay tôi bằng một giọng hằn học, tức tối:

"Anh Chung, anh từng hành quân với tôi đã lâu..."

Nói đến đây Thiếu Tướng Phú ôm tôi và khóc tiếp với giọng nghẹn ngào, tức tối:

"...mà đêm qua, Tổng Thống Thiệu lên đài nói chuyện và đổ tội cho các tướng lãnh là hèn nhát bỏ chạy. Anh cứ về hỏi Trung Tướng Trưởng xem, trong buổi họp hôm trước, có cả Trung Tướng của anh nữa đấy, tôi đã xin Tổng Thống cho tôi giữ Pleiku bằng mọi giá, Tổng Thống không chịu, bắt tôi phải rút... có cả Đại Tướng Viên và Đại Tướng Khiêm nghe nữa mà bây giờ Tổng Thống nói chuyện với toàn dân đổ tội cho chúng tôi, thật cái nhục này tôi không biết tỏ cùng ai, không biết đồng bào có hiểu không, chỉ có cách chết mới hết nhục".

Tôi (Đại Tá Chung) không khỏi ngậm ngùi thương xót chia xẻ nỗi oan ức của một vị đàn anh đáng kính như Thiếu Tướng Phú, nên tôi hết lời an ủi và khuyên Thiếu Tướng hãy bình tỉnh và nên tĩnh dưỡng.
Đó là lần cuối cùng Đại Tá Chung gặp Tướng Phú. Sáng ngày 29 tháng 4/1975, tại căn nhà riêng ở đường Gia Long, chờ khi vợ và các con rời nhà để đi về phía Trường Đua Phú Thọ tìm cách di tản, Tướng Phú đã uống một liều thuốc cực mạnh tự tử. Người em trai của bà Phú sau khi biết tin này đã chạy tới vào cho bà biết. Cả gia đình quay về. Theo lời kể của con trai Tướng Phú, đã vượt biên sang Mỹ, những giờ cuối của Tướng Phú được ghi nhận như sau: Nhờ có các bác sĩ Pháp gần nhà giúp đỡ, Tướng Phú được đưa vào bệnh viện Grall để cấp cứu. Nhưng Tướng Phú mê man liên miên, mãi đến trưa ngày 30/4/1975, ông mới tỉnh được giây lát và thều thào hỏi người vợ đang ngồi cạnh:

- Tình hình đến đâu rồi?

Bà Phú nói:

- Tướng Dương Văn Minh ra lệnh Quân đội bỏ súng đầu hàng, và Cộng sản đã vào tới Sài Gòn!

Nghe xong Tướng Phú nhắm mắt lại và "ra đi".

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phong Cách Anh Hùng
Nguyễn Đông Thành

Dù rằng có nhiệm vụ không thể thiếu sót là làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Khóa 8 Đà Lạt, Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, vẫn không chối được trách nhiệm về việc bỏ mất miền Tây Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho Cộng Quân tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa một cách mau chóng và dễ dàng hơn cả dự liệu lạc quan nhất của những người hoạch định chiến lược Bắc Việt. Đó là nhận định nhất trí của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, trong những năm đầu hạ bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lý vào hồi đó, tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của Tướng Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành binh đã được ghi nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị và thiếu chỉ huy.

Nhưng rồi thì từng phần sự thật dần dần được phơi bày. Người ta chưa biết thật đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng đã biết rõ được vài ba sự việc có thể chứng minh rằng Tướng Phú trên thực tế không có trách nhiệm gì hết trong cuộc rút quân khởi sự ngày 13-3-1975. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH. Tổng Thống Thiệu đã đích thân ra Nha Trang gặp Tướng Phú, mang theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, để đích thân truyền đạt lệnh rút quân.

Với tư cách là tư lệnh một Quân Đoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chống lại mệnh lệnh của vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội. Nhưng Tướng Phú cũng không tuân hành: hoặc là vì chính ông từ khước; hoặc vì Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không ngoan ngoãn vâng lời. Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây Nguyên là một Đại Tá mới được thăng cấp Chuẩn Tướng, Đại Tá BĐQ Phạm Duy Tất, để lãnh chức Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, và tướng Tư Lệnh được đặt trong tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe từ ngày 14-3-75 đến ngày bị Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng mới nhậm chức, bắt giam vì tội bỏ mất vùng Tây Nguyên.

Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây Nguyên được thực hiện theo lệnh thượng cấp, Tướng Phú trên thực tế chẳng còn là Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, nên không có trách nhiệm về cuộc hành binh tự sát mà ông tuyệt đối không tham dự vào bất cứ một giai đoạn nào từ quyết định, thiết kế, đến việc chuẩn bị và thực hiện. Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc bỏ mất vào tay địch một phần lãnh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rõ là đại cuộc đã không còn cách nào cứu vãn nữa vì Đại Tướng Dương Văn Minh đã dùng quyền Tổng Tư Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp mình cho Cộng Sản.

Người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú tự sát chẳng phải là vì sợ Cộng Sản bắt được và hành hạ trả thù. Nếu muốn, Tướng Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra nước ngoài một cách ung dung như một số đông các vị cựu tướng lãnh khác, chứ không đến nỗi phải chịu nhục trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ như một số người khác, hay phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đáp trên một mái nhà như ông Tổng Trưởng Quốc Phòng, kẻ mới tuần trước còn tống giam ông vì tội “không dám hy sinh chiến đấu và bỏ chạy trước quân địch!”

Việc Tướng Phú đến cơ quan DAO gặp Tướng Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một chuyến bay di tản cho một người con ông, tác giả cuốn sách “Decent Interval” không khen các tướng lãnh khác là thức thời và cũng không chê Tướng Phú là gàn dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ý là Tướng Phú tự sát ngay sau khi Cộng Sản tràn vào Sài Gòn và thở hơi cuối cùng ở Bệnh Viện Grall. Nhưng một tấm hình in trong tập ảnh kẹp giữa cuốn sách “Decent Interval” lại nói hộ ông Frank Snepp những điều ông không cần viết ra mà vẫn nói lên được về tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một tướng lãnh đã quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm thanh thản chứ không đành chạy thoát thân khi đất nước lâm nguy. Đó là bức ảnh kỷ niệm mà Tướng Smith lúc đó phụ trách về việc xếp hạng ưu tiên cho những người được coi là có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc của các phi vụ di tản. Ông ta bận đến mức không có thì giờ đi ăn, nên sự kiện Tướng Smith bỏ ra vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với Tướng Phú, chứng tỏ hai người có sự tương kính lắm. Nếu cũng tham sống sợ chết, Tướng Phú có thể xin người bạn thân của mình dành nhiều chỗ cho gia đình ông ung dung ra đi.

Nhưng người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú còn đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng Smith một chỗ duy nhất cho cậu con trai của ông, ý hẳn là để giữ cho họ Phạm còn có người nối dõi. Hành động tự giết mình để chết theo Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử đã được quyết định từ lúc ông đến gặp Tướng Smith để ký thác đứa con côi, chứ không phải là một việc liều lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng Sản đang hùng hục tiến về phía Dinh Độc Lập.

Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả người Pháp cũng có dịp tán thưởng phong cách anh hùng của một sĩ quan nhảy dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ ra họ không lưu ý tới, vì đã chỉ mới được đề bạt giữ một chức vụ khiêm nhường là Tiểu Đoàn Phó lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành hình. Một trong hai tác giả đó là Đại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đã tự thú là có thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.

Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo đơn vị, TĐ5ND, nhảy xuống tiếp viện lực lượng G.O.N.O. trong vùng lòng chảo Điện Biên Phủ, Trung Tá Langlais còn giữ nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng xấu đặc biệt về TĐ5ND, đơn vị mà chính ông ta đã đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị hồi cuối năm trước. Langlais có chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển “Điện Biên Phủ” do nhà xuất bản France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập ký sự đó, Langlais còn nhìn nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp. Nhưng cũng trong tập ký sự Điện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành hơn 10 đoạn để nói về TĐ5ND, đặc biệt về viên sĩ quan cấp úy tên Phạm Văn Phú, người đã chỉ huy giỏi giang và chiến đấu dũng liệt đến mức làm cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm của mình về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống Cộng. Đại Tá Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của Quân Đoàn II-Quân Khu 2 của Việt Nam Cọng Hòa:

“Ngày 2-3-1954, khi tình hình Điện Biên Phủ đã nguy ngập tới mức René Pleven, Bộ Trưởng Bộ Quân Lực Pháp, vừa từ Điện Biên Phủ trở về, đã phải ra trước Hội Đồng Liên Bộ, để đề nghị một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập Liên Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và TĐ6ND mà Thiếu Tá Begeard, Tiểu Đoàn Trưởng, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ những năm kháng chiến ở vùng Đức chiếm đóng. TĐ5ND nhảy xuống Điện Biên Phủ trước tiên, vào buổi chiều ngày 24-3-1954. Nhảy ở độ thấp, dưới mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly. Địch bắn dữ dội đến mức phải thay đổi bãi nhảy mấy lần.

Trung Tá Langlais là Tư Lệnh Phó Lực Lượng G.O.N.O. nhưng nắm toàn quyền trên thực tế, vì Đại Tá De Castries chỉ làm một việc độc nhất là ký và chuyển đi những gì được Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với các quân nhân người Việt, nhất là với TĐ5ND nên ông đã dự tính là xé lẽ ra để bổ sung chỗ này chỗ nọ, chứ không xử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.

Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một đại đội của TĐ5ND đã bị biệt phái cho một đơn vị Lê Dương để tiếp cứu lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành quân không đạt được kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần chiến đấu của lực lượng vừa gởi tới tăng viện. Nhưng Langlais đã bắt đầu nhìn TĐ5ND với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TĐ6ND của Thiếu Tá Begeard, TĐ5ND được giao cho trấn giữ đồi Eliane 4 ở phòng tuyến thứ 2, nhiệm vụ vừa nặng nề vừa nguy hiểm, là tự chôn mình dưới hỏa lực địch. Cả hai tiểu đoàn đóng gần đỉnh đồi, TĐ6ND giữ mặt Tây, TĐ5ND giữ hai mặt Đông và Nam. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn có thể bị bắn trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch rình rập thường trực ở phía đối diện. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng tình nguyện trấn giữ vị trí nguy hiểm đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông hào trong thời gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng và tinh thần phục vụ của những quân nhân Việt Nam, đang ép lòng chấp nhận quyền chỉ huy của người Pháp trong giai đoạn chuyển tiếp.

Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội trong TĐ5ND và cũng là đại đội trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy. Hai đại đội trưởng khác là Đại Úy Armandi và Rouault. Ngày 24-3-54, TĐ5ND được tăng phái thêm Đại Úy Alian Bizard, sĩ quan Tùy Viên của một tướng ở Sài Gòn xung phong ra mặt trận. Do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm Tiểu Đoàn Phó chịu trách nhiệm trấn giữ hai cứ điểm H6 và H7. Đại Úy Bizard mang theo mấy trung đội lấy từ Đại Đội 1 và 4; trong khi ấy Đại Đội 3 được biệt phái cho cứ điểm Dominique, Eliane và Isabelle. Lính Bắc Phi ở Dominique 1 bị tràn ngập, Đại Đội 3 của TĐ5ND tăng phái chỉ còn 10 người chạy về tới tiểu đoàn bộ.

Tình hình hồi ấy tuyệt vọng đến mức Navarre và Cogny chỉ còn độc một việc là đổ lỗi lên đầu nhau. Langlais luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến Dédé (Botella) để động viên tinh thần họ giữ vững đồi Eliane 4 vì để mất cứ điểm ấy là đại bản doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia xẻ với TĐ6ND của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TĐ5ND, đã mất đi Đại Đội 3, chỉ còn sử dụng được non phân nửa quân số còn lại. Langlais giải nhiệm cho Bizard chức Tiểu Đoàn Phó hư hàm để ông ta mang Đại Đội 1 đi trấn giữ cứ điểm H6, trong khi Trung Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng trách không tương xứng với một đại đội là trấn giữ điểm tựa Opéra vừa thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm Hugette 1 và Épevier.

Trong thượng tuần tháng 4-1954, tình hình ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14-4-1954, Langlais báo cáo là chỉ còn 3,000 quân khiển dụng vì ông không thèm tính tới các phần tử đã mất hết tinh thần chiến đấu. Ở đoạn này trong sách Điện Biên Phủ, tác giả nhấn mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Eliane 4 (TĐ6ND và TĐ5ND) vẫn giữ vững tinh thần, và họ nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.

Hôm sau, Đại Tá De Castries được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và Ladande cũng được thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong đó có Trung Úy Phạm Văn Phú.

Ngày 19-5-1954, Đại Úy Phú được thay thế bởi Đại Úy Bizard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H6 đêm hôm trước. Đại Đội 1 gồm 200 chỉ còn lại 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Đại Đội 2, rồi Đại Úy Phú được đề bạt lên chức Tiểu Đoàn Phó ngày 26/4.

Vào thời điểm ấy, tình hình ở Điện Biên Phủ rõ ràng là vô phương cứu chữa. Sau gần một tháng thí quân không tính đếm, 3 trung đoàn địch đã phá hủy được toàn bộ phi đạo; giải quyết xong 3 điểm tựa trong đó có điểm tựa Opéra mà Đại Úy Phú đã giao lại cho Đại Úy Bizard 5 ngày trước.

TĐ5ND chỉ còn ngót hơn 200 chiến sĩ vì ngoài Đại Đội 2 không toàn vẹn, Bộ Chỉ Huy chỉ sử dụng vài chục người còn sót lại của 3 đại đội đã tan vỡ. Quân số đã hao hụt quá nửa nhưng lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội là một mình trấn giữ tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TĐ6ND (Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Béchignac) giữ liên lạc với Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Để làm cái việc không thể làm nổi là ngăn chặn không cho địch quân đông gấp mấy chục lần vượt sông xâm nhập vào trung tâm, ngót 200 chiến sĩ TĐ5ND chỉ được tăng cường bằng mấy chục chiến sĩ còn lại của Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù do Đại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng lực lượng tử thủ ấy vẫn làm tròn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7-5-54. Mấy giờ trước đó, hai đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TĐ5ND, nhưng họ phải mất 3 giờ mới đến được Bộ Chỉ Huy của Thiếu Tá Botella, và chỉ còn không quá 20 chiến sĩ.

Đến hừng sáng, Đại Úy Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng dành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Đại Úy Guillemint, Đại Úy Phú, Thiếu Úy Lafanne) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng mấy chục chiến sĩ TĐ5ND tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam. Địch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này địch quân sử dụng loại súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn, loại vũ khí mới lần đầu tiên xử dụng trên chiến trường Việt Nam, và căn cứ chỉ huy của TĐ5ND thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7-5-54.”

Trên đây là tóm lược các đoạn nói về TĐ5ND và về Đại Úy Phạm Văn Phú trong cuốn Điện Biên Phủ của Đại Tá Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng G.O.N.O. ở Điện Biên Phủ trong thời gian tiểu đoàn này tham chiến tại mặt trận đó. Đại Tá Langlais đã đích thân ra lệnh, đã chính mắt nhìn thấy, hay đã được báo cáo tường tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên đại tá Pháp đó, từng mang nặng thành kiến không tốt với các chiến hữu Việt Nam, nên chắc chắn không cố ý nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TĐ5ND Việt Nam nói chung và viên Đại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập hồi ký Điện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển Decent Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê gì nhân vật Phạm Văn Phú.

Cũng như Đại Tá Pierre Langlais, người viết quyển “La Bataille de Dien Bien Phu” (xuất bản ở Paris cuối năm 1963) cũng là một sĩ quan cao cấp, cũng từng tham chiến ở mặt trận đó từ đầu đến cuối. Ông Jules, về sau được phép trở lại Bắc Việt thu thập tài liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho vì dày đến 624 trang), bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ. Sự nghi ngờ đó không phải là vu vơ, quả thật tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” đã đưa ra khá nhiều hình ảnh và luận điệu có lợi cho phe địch. Tuy nhiên trong các đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến mấy trận đánh từ sau ngày các cứ điểm Béatrice 1, 2 và 3 thất thủ (đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương tự như Pierre Langlais (khá chi tiết hơn vì viết dài hơn) về các chiến tích của TĐ5ND/VN và nhất là về phong cách anh hùng của Tiểu Đoàn Phó Phạm Văn Phú. Về trận đánh dứt điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Eliane 4, Jules Roy bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:

“Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch liệt cứ điểm Eliane 4. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng Cộng Quân là Trung Đoàn 98. Bộ Chỉ Huy TĐ5ND chỉ còn xử dụng được không đầy 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được. Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và súng không giật, nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân vẫn tiến được lại gần. Trong thế ưu thắng rõ rệt, Trung Đoàn 98 vẫn phải dè dặt tối đa; đây là lần đầu tiên họ xử dụng đường điện thoại vô tuyến nối liền các đại đội với chỉ huy sở Trung Đoàn.

Chiến sĩ TĐ5ND chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ, Đại Úy Phú chỉ còn 30 người để chỉ huy. Họ bắn đến nòng súng nóng bỏng và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giựt với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Đoàn Phó vừa bị đốn ngã.

Trên đỉnh đồi vừa rạng sáng, trận cận chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Eliane 4. Quân địch tràn ngập khắp nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Eliane 4 vẫn còn cầm cự. Theo lệnh Đại Tá Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Đoàn Lê Dương số 13, đi tiếp cứu Eliane 4, nhưng không kịp. Vì trong căn hầm chỉ huy đầy nhóc thương binh, Thiếu Tá Béchignac không đồng ý xin bắn vào đầu mình và hơn 10 người còn vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng.”

Tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ. Tác giả hồi ký “Dien Bien Phu” xác nhận vốn có thành kiến xấu với các quân nhân người Việt Nam nói chung và TĐ5ND nói riêng. Nhưng cả hai tác giả đều không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn Phú, hồi ấy còn là một sĩ quan cấp úy, tức là cấp nhỏ hơn họ nhiều. Một chiến sĩ có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu binh nghiệp, tất nhiên không thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một tướng lãnh mà cúi mặt ở nước người khi quân tan, nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát, để được chết với lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một tướng lãnh.

 nguồn:http://hoilatraloi.blogspot.com/2011/04/thieu-tuong-pham-van-phu-vi-anh-hung.html


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Tám 20192:18 CH(Xem: 143)
Một tàu cá của ngư dân Bình Định số hiệu BĐ 96813 TS bị tàu Trung Quốc số hiệu 46301 truy đuổi khi táu cá Việt Nam đang hoạt động đánh bắt tại khu vực quần đảo Trường Sa. Mạng báo Thanh Niên trong nước loan tin dẫn nguồn từ Ban Chỉ Huy Phòng chống Thiên Tai & Tìm kiếm, Cứu Nạn tỉnh Bình Định. Theo đó thì vào trưa ngày 13 tháng 8, tàu cá BĐ 96813TS do ông Dương Ngọc Dõi, chủ tàu kiêm thuyền trưởng, khi đang đánh bắt tại khu vực quần đảo Trường Sa thì bị tàu Trung Quốc số hiệu 46301 truy đuổi.
13 Tháng Tám 20194:08 CH(Xem: 150)
“Theo tôi đoán rằng, nếu trên biển Đông không đón những cơn bão mới và thỏa thuận kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ không có chiều hướng tốt đẹp cho Trung Quốc thì họ sẽ gây sức ép lớn hơn lần thứ nhất. Vấn đề biển Đông vấn đề xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam phụ thuộc vào quan hệ kinh tế Mỹ - Trung và nếu Trung Quốc chấp nhận trả giá trong mối quan hệ này bằng việc tiếp tục bị Mỹ gây sức ép thì Việt Nam sẽ là chỗ để Trung Quốc ra đòn cứu vãn uy tín của Tập Cận Bình”.
11 Tháng Tám 201912:24 SA(Xem: 182)
Với hành vi ngang nhiên xâm lấn nước Việt Nam của bọn giặc Tàu mà trong nước lại có những kẻ gọi những người Bài Trung là dân tộc cực đoan thì loại người này là loại người gì? có ngu quá thì về học ăn học nói trước khi phát ngôn trước công chúng, hành vi Bài Trung của dân Việt chỉ bắt đầu khi TQ có những hành vi ngang ngược xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, còn chủ nghĩa dân tộc cực đoan xuất phát từ kì thị và phân biệt chủng tộc, nó không cần lý do cũng có thể khởi động bất cứ chiến dịch nào để bài ngoại. Học Thức như vậy mà cũng làm CEO, đúng là cái xứ ngu ngục cho nên bọn dốt được dịp múa gậy vườn hoang.
05 Tháng Tám 201912:52 CH(Xem: 2412)
Những cuộc diễn tập mới nhất của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông gồm đợt diễn tập 5 ngày ở phía bắc quần đảo Trường Sa vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 vừa qua. Trước đó vào tháng 3, Trung Quốc cũng cho tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật gần khu vực quần đảo Hoàng Sa. Vào ngày 19 tháng 6, hình ảnh vệ tinh do truyền thông Hoa Kỳ loan đi cho thấy Trung Quốc triển khai ít nhất 4 chiến đầu cơ J-10 đến đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa..
05 Tháng Tám 201912:47 CH(Xem: 208)
Bãi Tư Chính với lô 06.1 nằm trong khu vực này, dù bãi này hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam căn cứ theo Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc. Theo Trang Minh Bạch Hàng Hải, từ ngày 16/6, tàu Hải cảnh Haijing 35111 đã đi vào gần khu vực lô 06.1 nằm ở phía tây bắc Bãi Tư Chính. Tàu này luôn đi gần các tàu hậu cần của Việt Nam nhằm đe dọa các tàu này. Ngày 2/7, tàu 35111 thậm chí đi với tốc độ nhanh và chỉ cách các tàu hậu cần của Việt Nam khoảng 100 mét mỗi tàu.
31 Tháng Bảy 20193:35 CH(Xem: 339)
Trung tướng Ngô Minh Tiến, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam bày tỏ: “Lịch sử phát triển quan hệ hai nước tuy đã trải qua những bước thăng trầm, nhưng vượt lên trên tất cả chúng ta đã và đang nỗ lực không biết mệt mỏi cùng nhau xử lý các khác biệt, duy trì môi trường ổn định và phát triển ở mỗi nước. Vun đắp cho tình hữu nghị bền lâu... đó không chỉ là tâm nguyện của nhân dân và quân đội Việt Nam và Trung Quốc mà còn là tâm nguyện, khát vọng của thế giới văn minh ngày nay”.
20 Tháng Bảy 20192:19 CH(Xem: 289)
Thông cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lặp lại việc Trung Quốc tiến hành cải tạo và quân sự hóa những đảo đá tiền tiêu ở Biển Đông, cùng với các nổ lực khác nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền phi pháp tại khu vực biển này, bao gồm việc sử dụng lực lượng dân quân biển để trấn áp, dọa nạt, đe nẹt những quốc gia khác làm phương hại đến hòa bình và an ninh khu vực. Hoa Kỳ mạnh mẽ phản đối việc cưỡng bức, đe dọa bởi bất cứ quốc gia nào nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền và quyền hàng hải tại Biển Đông.
16 Tháng Bảy 20194:47 CH(Xem: 420)
Nếu những gì đang diễn ra ở Biển Đông trong tháng 7 được xác nhận chính xác, thì điều này cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị đẩy đòi hỏi chủ quyền trên biển của mình khi Việt Nam lùi bước", Giáo sư Carl Thayer nói, và giải thích thêm rằng Việt Nam đã lùi bước trước sức ép của Trung Quốc trong các năm 2017 và 2018 khi yêu cầu công ty Repsol của Tây Ban Nha phải ngưng khoan thăm dò dầu khí ngay tại vùng thềm lục địa của Việt Nam.
03 Tháng Bảy 20193:17 CH(Xem: 385)
Hai sản phẩm thép chống gỉ và thép cán nguội của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ tăng lần lượt 332% và 916% trong khoảng từ tháng 12 năm 2015 cho đến tháng 4 năm 2019, là cột mốc mà Hoa Kỳ áp đặt thuế lên các sản phẩm thép nhập khẩu từ Hàn Quốc và Đài Loan. Bản tin của Bloomberg đăng tải vào ngày 3 tháng 7 cho rằng DOC áp đặt mức thuế mới lên một số sản phẩm thép Việt Nam vì cáo buộc Hàn Quốc và Đài Loan chuyển hàng tới nước này gia công và sau đó xuất hàng sang Mỹ.
01 Tháng Bảy 20199:47 CH(Xem: 541)
Vì thế chúng tôi khuyến nghị tất cả bạn đọc và Cộng Tác Viên của trang tin hãy chú ý thật cẩn thận trước khi bấm nút truy cập vì chúng có thể dẫn các bạn đến những trang khác nằm trong quyền kiểm soát của giặc Tàu. Chúng tôi chỉ có một tên miền duy nhất là: www.quyenduocbiet.com và không có bất kỳ chữ đuôi nào như net, org, cn...
20 Tháng Tám 2019
Kinh tế chao đảo và không có dấu hiệu hồi phục làm cho Bắc Kinh nôn nóng. Những dự án thế kỷ như “Nhất đái nhất lộ” coi như chờ ngày tống biệt. Thậm dư ngân sách ngày một ít đi, thị trường chứng khoán bấp bênh và chưa có ngày nào dấy lên chút hy vọng xanh sàn. Tăng trưởng liên tục sụt giảm và chưa có dấu hiệu chững lại, người dân các vùng đất nông thôn tiếp tục bị thiên tai và kinh tế suy giảm đe dọa, đã vậy cuộc chiến thương mại kéo theo hàng trăm công ty lớn rời khỏi Trung Quốc đã làm Bắc Kinh giận dữ và tìm mọi cách phản công. Sức đâu nữa mà đánh nhau với Việt Nam chỉ để tranh giành một chút biển...
19 Tháng Tám 2019
Các cuộc bầu cử do nhà cầm quyền cộng sản tổ chức đều chỉ là hình thức khi mà các công dân không phải đảng viên đảng CSVN khi ứng cử thì đều bị loại. Và các cơ quan do đảng CS kiểm soát đã lựa chọn các ứng cử viên theo ý muốn của họ, người trúng cử đã được quyết định từ trước. Thậm chí các vị trí lãnh đạo sẽ được bầu trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2021 thì nay đã được Ban chấp hành trung ương khóa 12 quyết định từ tháng 6 năm 2019. Về kinh tế, hiện nay các doanh nghiệp tư nhân vẫn bị phân biệt đối xử và bị cạnh tranh không bình đẳng với cách doanh nghiệp mang danh là doanh nghiệp nhà nước do đảng CS thành lập...
19 Tháng Tám 2019
Nói vậy để thấy tương lai giáo dục Việt Nam sẽ về đâu và bị điều khiển bởi thứ gì. Nói vậy để thấy tại sao Việt Nam có nhiều giáo sư, tiến sĩ vừa giỏi về kiến thức, chuyên môn lại vừa giỏi làm quản lý nhưng Phùng Xuân Nhạ nói ngọng líu lo (níu no), phát biểu không đâu vào đâu, quản lý kém vẫn cứ an trụ vị trí Bộ Trưởng Giáo dục. Bởi Nhạ tuy ngọng về ngôn ngữ, ngọng nhiều thứ nhưng xét về bằng cấp chính trị, Nhạ lại rất sáng, rất “zõ zàng” và đủ sức để đạp qua mọi thứ bằng cấp khác. Nói vậy để thấy trong tương lai, đừng mơ hồ chúng ta sẽ sống trong bầu không khí cởi mở, dân chủ...
19 Tháng Tám 2019
Hiện nay Đcs Trung Quốc đang mong cho dân Hồng Kông hạ nhiệt xuống để họ khỏi phải xả súng, và ĐcsVN cũng ngóng theo cơn địa chấn này và chắc chắn họ cũng mong điều tương tự như quan thầy của họ. Thầy trò 2 anh CS lưu manh không muốn dân Hồng Kông đi quá xa, nhưng nhân dân Việt Nam thì đang muốn. Dân Việt Nam đang muốn dân Hồng Kông tạo ra cơn địa chấn để đòi lại dân chủ cho mình và làm lung lay triều đình Bắc Kinh. Biết đâu, cơn địa chấn Hồng Kông nổ ra lại là tiếng trống bắt đầu cho một thời kỳ suy thoái của Đcs Trung Quốc.
18 Tháng Tám 2019
HD.8 quay trở lại gây kẹt cho trò, chẳng còn biết đường mô là lần, trách thầy khi rút ra sao chẳng báo trước rằng ít hôm sẽ trở lại, thì trò không nổ banh nóc nhà để nay không chỗ núp… Tóm lại HD.8 vẫn còn đang hoạt động với chương trình đã định của nó, và thừa biết thằng đầy tớ Ba Đình, không dám một ly ông cụ đi trật ra ngoài kịch bản do chủ Bắc Kinh vạch ra, hơn nữa Tầu cộng cũng chẳng phải tôn trọng dư luận cộng đồng quốc tế gì sất, vì thừa biết quốc tế chỉ quan tâm đến con đường hàng hải biển Đông, còn chuyện nội bộ thày trò Hán phỉ nếu nói chỉ là có lệ.
14 Tháng Tám 2019
Nói cho cùng, sức mạnh của Trung Cộng không vững bền như nhiều người tưởng. Chính quyền Trung Cộng đang vất vả tính bài toán sinh tồn từng ngày từng giờ trong khi chính phủ Hoa Kỳ không hề tốn công tốn sức tính đến loại bài toán như vậy. Sự kèn cựa của Trung Quốc với Hoa Kỳ chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn trong lịch sử trước khi Trung Quốc tự nổ tung rồi chết như Liên xô trước đây thôi. Đó là tất yếu. Giấc Mộng Trung Hoa sẽ tan và Giấc Mơ Mỹ vẫn trường tồn.
12 Tháng Tám 2019
Không một ai có thể phủ nhận sự thật đúng đắn này và đem những học hàm, học vị mình ra để bảo vệ cho một loại ngôn ngữ sao chép, phiên âm từ tiếng Hán, nếu có thì đó là những kẻ vong nô với những tâm hồn nô lệ thâm căn cố đã được truyền qua nhiều thế hệ cho nên mới tiếp tục “kiên quyết” (xin lỗi bạn đọc vì chúng tôi hành văn theo kiểu cs) tiếp tục con đường mù lòa của những não trạng nô lệ, còn những con người yêu nước thì mỗi khi mở miệng cất lời thì nên suy cho nghĩ trước khi nói để chúng ta không dùng những ngôn từ vay mượn của giặc Tàu hôm nay cũng như trong lịch sử tiến hóa của nền văn hóa Việt Nam ngày mai.
12 Tháng Tám 2019
Nhưng một khi đã chấp nhận một nền kinh tế đa thành phần, tự do giao thương thì đảng csVN đã tự mâu thuẩn với chính lý thuyết cộng sản mà mình đang hô hào, bởi vì chủ thuyết cộng sản không có thị trường tự do với nền kinh tế nhiều thành phần mà chỉ có nền kinh tế tập trung tất cả vào tay nhà nước. Những ngôn từ, mệnh đề như “Thời kỳ quá độ đi lên XNCH” chỉ là bịp bợm nhằm định hướng người dân bởi vì đảng csVN không thể trả lời cái thời kỳ quá độ mà họ đang đi sẽ kéo dài đến bao giờ? 10 năm, 100 năm hay 1.000 năm?!.
11 Tháng Tám 2019
Của đáng tội ăn nhậu gì đến thế giới văn minh ngày nay! Hắn muốn lấy điểm quan thầy Tung Của để bản thân hắn leo cao, và cái đảng thổ tả của hắn tiếp tục được quan thầy chống lưng, mà lôi cái ‘tâm nguyện’ loài khuyển mã ra gán cho chung thiên hạ. Đấy còn ai kết tội mỗ tôi nói điều không phải cho đảng, đây chính là cán bộ gộc của đảng đã trả lời cho ông giáo sư Carlyle Alan Thayer bên Úc, nói là tình hình đang nóng lên từng giờ, chỉ cần có xung đột là khai hoả tấn công, và có chiến tranh ngay… Chuyện ông nói xin đợi đến cóc mọc râu!
06 Tháng Tám 2019
Vấn đề ông cho rằng chữ xưa dùng từ Viện Đại Học các giáo sư ngày nay đổi lại là giáo viên nghe nó nghịch tai nhưng ông hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi nói kẻo bọn nhỏ nó cười cho, không ai dùng cái chữ Viện (xuất phát từ Hán) để gọi như mấy ông mà họ chỉ nói Trường Đại học ví dụ Trường Đại Học Havard, chứ không ai nói là Viện đại học Havard cả. Viện có thể được dùng để chỉ những cơ sở lớn hơn trường ví dụ Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt... Đó là cái tư duy nô lệ thâm căn cố đế, của cái dấu ấn 1.000 năm đô hộ giặc Tàu đấy...