1975, Ký ức – hiện tại: Nỗi sợ hãi vẫn còn đó

27 Tháng Tư 20174:23 CH(Xem: 1399)

1975, Ký ức – hiện tại: Nỗi sợ hãi vẫn còn đó

30thangTu3Những tên theo cs ngày tàn cuộc chiến mà người dân miền nam gọi là bọn 30/4, bọn cỏ đuôi chó xé cờ VNCH, chúng mau chóng bị đảng thải hồi không thương tiếc và ngày hôm nay đã sáng con mắt về cái được gọi là một xã hội không còn người bóc lột người!


Thiên Thanh (*)



42 năm vụt qua. Từ một thiếu nữ tuổi teen, giờ tôi đã thuộc hàng U60, sắp đếm ngược những ngày còn lại. Nhìn lại ký ức, trông vào hiện tại, tại sao nỗi sợ hãi của tôi vẫn còn đó?

1.Tôi sinh ra và lớn lên ở ngoại ô Saigon, trước năm 1975 gọi là vùng Gia Định. Vào ngày 29/4/1975, mới 13 tuổi, tôi trở thành người lớn nhất trong nhà với 5 đứa em từ 6 tuổi – 11 tuổi, vì ba của tôi – vốn là một quân nhân quân đội Việt Nam Cộng Hòa – đang ở trong doanh trại, còn mẹ thì nằm bệnh viện. Lúc đó, cả xóm tôi bấn loạn vì “Việt cộng sắp đến”. Mọi người tập trung ở nhà thờ cầu nguyện sau đó đổ xô đến một ngôi nhà – nơi có hầm trú ẩn lớn nhất trong xóm. Không có ba mẹ, thật khó khăn khi tôi bồng đứa nhỏ nhất trên tay và cố lùa 4 đứa còn lại chạy đến gian hầm trú ẩn đó, bởi lũ em tôi hồn nhiên: đứa leo lên cây cố hái cho hết xoài, đứa đập ống heo gom hết tiền… vì sợ trộm vào lấy thì uổng! Tôi đã trải qua những giờ phút lo lắng hồi hộp khi ngồi cùng các em trong gian hầm trú ẩn. Trong khi mọi người sợ Việt cộng sẽ nã súng nã bom vào hầm thì tôi sợ lỡ ba mẹ tôi không về nữa thì tôi sẽ làm thế nào để nuôi các em?

May thay, xóm tôi “được giải phóng” êm đềm, không có quả bom pháo nào ghé đến và khi các chú bộ đội tiến vào cũng là lúc mọi người ai về nhà nấy.

Mãi cho đến chiều tối, ba tôi mới trở về nhà trong áo may-ô và quần đùi với dáng điệu xơ xác. Quá sợ hãi, ông đã cởi bỏ bộ quân phục và chạy bộ ra khỏi doanh trại về nhà. Hôm sau khi đã bình tĩnh lại, ông vội vã đến bệnh viện kiếm mẹ tôi. Trong lúc ông đi, thì mẹ tôi lại lội bộ về nhà.

Ngày “giải phóng” đối với gia đình tôi thế là may mắn. Và tôi nhớ mãi những buổi tối đầy căng thẳng giữa ba tôi và những người họ hàng – cũng tham gia quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc cao hơn. Tất cả người lớn trong nhà tôi đều lo lắng, phỏng đoán đủ thứ điều có thể xảy ra, trong khi tôi và các em hồ hởi đi “xem” các chú bộ đội.

2. Mùa khai giảng đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, tôi phải chuyển từ ngôi trường trung học thân yêu trên thị trấn về ngôi trường cấp 2 gần nhà vì nơi đó chỉ dành cho học sinh cấp 3. Năm học đầu tiên ở ngôi trường “làng”, tôi có một người bạn gái thân tên V.N. N. cũng là chị hai giống tôi, với 4 đứa em mỗi đứa cách nhau một vài tuổi. Điều khác biệt là ba N. là sĩ quan nên ông phải đi học tập cải tạo. Còn mẹ N. là người phụ nữ đẹp nhất vùng tôi ở lúc bấy giờ. Bà vừa đẹp vừa tài giỏi với tiệm may thêu lớn trong vùng. Khi tôi đến nhà N. chơi, tôi thường thấy các chú bộ đội tụ tập ở nhà N. để sửa quần áo nhưng trên hết, họ say sưa với những câu chuyện của mẹ N. – một phụ nữ miền nam ăn nói nhỏ nhẹ rất dễ thương.

Vào một ngày khi tôi đến chơi, đứa em trai út của N. lúc đó khoảng 5-6 tuổi chạy ra khoe với tôi: Em sắp có em rồi! Khi tôi còn chưa hiểu chuyện gì thì mẹ của N. đã gọi tôi vào phòng riêng và kể cho tôi nghe câu chuyện tình yêu của bà. Hóa ra, bà vừa phát hiện mình có thai với chú T. – chú bộ đội đẹp trai nhất trong nhóm bộ đội thường hay đến nhà N. Với vẻ rạng rỡ, bà kể tôi nghe chú T. mới là tình yêu đích thực của đời mình vì bà lấy ba của N. theo lời khuyên của gia đình. Nhìn vẻ mặt bà, tôi tin bà nói thực. Vài ngày sau, tôi nghe tin chú T. phải trở về quê nhà ở phía bắc với lời hứa hẹn sẽ sớm quay vào sống bên cạnh mẹ con của N. Cả N, cả tôi và mẹ của N. đều tin chú T. nói thật. Thời gian trôi qua, mẹ N. không nhận được tin tức gì từ chú T. Các chú bộ đội đến nhà N. ít dần đi vì mẹ N. không còn vui vẻ như trước. Không khí gia đình N. càng ngột ngạt hơn khi ba N. đột ngột trở về vì “học tập cải tạo tốt”. Tôi ít đến nhà N. chơi hơn, khi nhìn thấy vẻ bình thản đến lạ của ba N. và vẻ lo lắng sợ hãi của mẹ N. Mọi người xung quanh nhà N. thì thào với nhau: Sao không thấy ba N. nổi giận với mẹ N.?

Mùa hè năm 1976, mẹ N. chuyển dạ sanh con. Ba N. đưa bà đến bệnh viện chu đáo như mọi ông chồng khác nhưng đến ngày xuất viện, họ trở về nhà không có đứa bé trên tay. N. bảo tôi ba mẹ N. đã quyết định cho đứa bé ngay tại bệnh viện. Chuẩn bị vào niên học mới cuối cấp 2, N. chia tay tôi để cùng gia đình trở về quê nhà của mẹ. Kể từ đó, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc, thế nhưng bi kịch của gia đình N. ám ảnh tôi rất nhiều năm sau đó.

3. Sau 1975, xóm của tôi nhiều người dọn đi kinh tế mới. Họ hàng nhà tôi có ba người cấp bậc sĩ quan phải đi học tập cải tạo ở nơi tít mù khơi nào đó. Ba tôi không còn “lương lính” nữa phải xoay đủ thứ nghề, từ buôn bán dạo, về quê làm rẫy phụ bà con và sau cùng chạy xe lam. Mẹ tôi vẫn buôn bán nhưng tất bật hơn và ngày càng thắt chặt chi tiêu. Đồ đạc quý trong nhà như tivi, xe máy, tủ chè… bị bán lần lượt. Tôi thường phải đi chợ nấu ăn cho cả nhà, kiêm luôn việc đi nộp sổ xếp hàng chờ đợi mua dầu hôi, gạo, bột mì, bánh mì, thịt, vải may đồ, vỏ xe đạp… theo tiêu chuẩn. Rồi sau đó, gia đình tôi chỉ còn một bữa cơm trong ngày vào buổi tối, hai buổi còn lại ăn độn đủ thứ, có bữa toàn khoai hoặc toàn bo bo.

Bên cạnh đó, vì khan hiếm dầu hôi, chị em chúng tôi phải đi vào những cánh đồng và rẫy xa nhà vài cây số để mót củi, xin gốc rạ, bã mía, các gốc cây cà chua… về phơi khô để đun nấu. Chúng tôi lớn lên trong cảnh đủ no là may, không quan trọng là đang ăn cái gì. Quần áo toàn mặc lại đồ cũ của họ hàng, có được cái xe đạp vào năm lớp 10 – ráp nối từ đủ thứ đồ gom nhặt được – cũng đã là sang.

Ấn tượng sâu đậm nhất với tôi vào thập niên 80 chính là sự vượt biên của bạn bè, đặc biệt là những bạn người gốc Hoa. Mặc cho những tin tức về những bạn mất tích trên biển, có những bạn bị cướp biển hãm hiếp… thế nhưng người bạn gái thân nhất của tôi những năm cuối trung học vẫn vài lần ra đi mà không thành công. Vào thời gian đó, tôi cũng ước nhà mình giàu có để vượt biên. Nhìn những gia đình có thân nhân nước ngoài được đi lãnh đồ ở bưu điện Saigon, đứa nào cũng thấy ham.

4. May mắn hơn các bạn con sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lý lịch có cha là “lính nguỵ” và gia đình Thiên Chúa Giáo không cản trở tôi vào đại học. Nhưng năm đó, dù tôi đạt điểm cao so với tiêu chuẩn thì vẫn không được chọn đi du học nước ngoài giống như mấy bạn con nhà cách mạng cùng mức điểm.

Khi ra trường, nộp lý lịch xin vào làm ở một tờ báo thì tôi không được nhận do là “lý lịch không đỏ”. Sau 6 năm tốt nghiệp cử nhân ngành khoa học xã hội, tôi trải qua đủ thứ nghề, từ mài tượng thạch cao, xếp kho sách, nhân viên thư viện đến thư ký cho một nhà văn… Mãi đến những năm đầu thập niên 90, khi đổi mới, kinh tế thị trường ập đến như một cơn lốc, các tòa soạn báo nổi tiếng ở Saigon không còn câu nệ lý lịch đỏ hay vàng nữa, tôi mới được tiếp nhận vào đội ngũ các nhà báo ở Saigon, sau hai năm thử việc không lương.

Những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, tôi luôn tự hào với nghề nghiệp của mình: một cái nghề phù hợp khả năng, giúp ích được cho xã hội, cho người dân và giúp tôi nuôi sống được gia đình nhỏ của mình. Vai trò nhà báo trong thời gian đó được chính quyền và người dân coi trọng, cho đến khi vụ PMU 18 nổ ra, hai nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên bị tống giam, Tổng biên tập của Tuổi Trẻ và Thanh Niên lần lượt ra đi. Tuy làm việc ở một tòa soạn nhỏ hơn, tờ báo của tôi cũng có thay đổi về đội ngũ lãnh đạo… Những tin/bài phản biện xã hội thường bị gác lại. Và mỗi lần có một tin bài nào đó bị “cấp trên” phê bình, phóng viên viết bài đó sẽ bị tổng biên tập mới làm khó dễ chứ không có chuyện bênh vực, che chắn phóng viên như các sếp cũ ngày trước. Mất môi trường làm việc tốt, tôi nghỉ việc ở tòa soạn đó và sang làm ở báo Sài Gòn Tiếp Thị - một tờ báo có nhiều bài phản biện nhất thời kỳ đó.

Sau hơn 20 năm chính thức làm nghề báo, tôi buộc phải nhận quyết định nghỉ việc từ quyền tổng biên tập Nguyễn Xuân Minh khi Sài Gòn Tiếp Thị (địa chỉ 25 Ngô Thời Nhiệm, phường 6 quận 3) bị rút giấy phép ra báo vào ngày 28/2/2014. Hơn 100 lao động làm việc tại báo Sài Gòn Tiếp Thị phải tan tác ra đi tìm công việc khác để sinh sống.

Vào thời khắc đau lòng đứng nghe quyền tổng biên tập Nguyễn Xuân Minh đọc quyết định đóng cửa báo Sài Gòn Tiếp Thị, tôi biết niềm tự hào nghề báo của mình ở Saigon đã hết.

5. 42 năm sau ngày thống nhất đất nước, tôi có một nỗi sợ hãi thường trực: lo mình bệnh hoặc người thân bệnh phải vào bệnh viện.

Sống ở một thành phố có đóng góp lớn nhất vào ngân sách trung ương, bên cạnh sự căng thẳng thường trực về môi trường ô nhiễm (bụi, khói xe, tiếng ồn, rác thải…), tôi không chỉ nơm nớp lo sợ cảnh trời mưa nước ngập, an ninh đường phố ngày càng kém, thực phẩm không an toàn… mà còn sợ không có tiền để vào bệnh viện (BV).

Nỗi sợ này ngày càng tăng lên khi tuổi tác ngày càng lớn mà tiền làm ra ngày càng eo hẹp. Chung quanh tôi, người bị bệnh ung thư ngày càng phổ biến. Thỉnh thoảng gặp bạn bè, hỏi ra nhà nào cũng có người bị bệnh ung thư. Đau lòng nhất là những đứa trẻ bị bệnh ung thư. Cả miền Nam chỉ có BV Ung Bướu TP HCM có khoa ung thư nhi nhận chữa tất cả bệnh ung thư theo tiêu chuẩn bảo hiểm y tế. Các BV khác chỉ nhận chữa một loại ung thư cho bệnh nhi như BV Truyền Máu & Huyết Học nhận chữa ung thư máu, BV Chấn Thương Chỉnh Hình chữa ung thư xương, BV Nhi Đồng 2 nhận chữa các khối u cứng… với giá thỏa thuận theo từng phác đồ.

Nói chung, dù là trẻ em hay người lớn, khi vào BV Việt Nam, cảm giác thật bất an. Dù có thẻ bảo hiểm y tế thì luôn luôn vẫn phải có tiền mặt để đóng tiền cọc thì các biện pháp chữa trị mới được tiến hành. Không chỉ có tiền, người bệnh ở Việt Nam phải có mối quen biết với các y bác sĩ, nếu không… thì phó mặc cho may rủi!

Sắp sửa lại đến ngày 30/4 – đúng 42 năm. Tôi không quan tâm đến lễ diễu binh, không quan tâm đến các tấm pano mô tả chiến thắng, không quan tâm đến pháo bông sẽ bắn ở đâu, khi nào. Ước mơ về một môi trường sống tốt hơn cũng thật xa vời vợi. Nhìn vào thực tại, tôi chỉ có một cầu mong: Nếu bị bệnh, xin chết ngay tại nhà và không phải vào BV (để khỏi làm phiền người thân và bản thân không bị hành)!

(*) Tác giả từng là một nhà báo, đang sinh sống ở Sài Gòn.

VOA

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Center page
20 Tháng Năm 2018
Giải pháp chính trị cho bán đảo Triều Tiên, anh em trong nhà giải quyết với nhau, như trong thượng đỉnh Liên triều 27/04/2018 tuyên bố: Sẽ không còn chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên… Một trang sử mới đang bắt đầu, ngay bây giờ tại điểm khởi đầu của lịch sử và kỷ nguyên hòa bình. Và 08/05 Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đến Bình Nhưỡng chuẩn bị Thượng đỉnh Mỹ Triều, riêng Kim cũng đã đến thành phố Đại Liên, đông bắc TQ ngày 07/05 để găp Tập cận Bành!
20 Tháng Năm 2018
Không còn nhiều thời gian cho Việt Nam để đi qua cánh cửa hẹp này, đó là con đường rất hẹp mà chúng ta phải vượt qua để thoát khỏi vòng Hán hóa, Cộng sản hóa, để xây dựng một quốc gia dân chủ mới với những giá trị cổ truyền được khôi phục.
18 Tháng Năm 2018
Đại cục là cái đại cục gì? Là mối quan hệ giữa VN-Trung Quốc? Hóa ra cái mối quan hệ bất bình đẳng, đầy rủi ro, thiệt thòi cho phía VN từ hồi nào tời giờ đó lại phải coi trọng hơn cả chủ quyền quốc gia? Hay đại cục là giữ cho được hòa khí với Trung Cộng để không bị Trung Cộng tấn công? Nhưng liệu giữ hòa khí, hòa bình bằng sự hèn hạ, nhục nhã thì có giữ được lâu dài, nhất là một khi kẻ cướp ngày càng mạnh, ngày càng hung hăng, nhiều tham vọng?
16 Tháng Năm 2018
Vì thế bọn cs con trong nước càng học đạo đức càng băng hoại, tư cách, nhân cách không còn, chúng lại tự huyễn hoặc mình đấy chính là đạo đức hcm. hcm không có gì xứng đáng để mà toàn dân học tập, làm theo cả.
14 Tháng Năm 2018
Các vụ đốt lò thay vì tăng tính thu hút với sự hứa hẹn "sẽ được bảo vệ nếu thờ chủ mới" có vẻ như đang tạo tác động ngược trong hàng ngũ cán bộ đang có tài sản lớn, dù đang tại chức hay vừa hạ cánh an toàn. Họ không tin vào các hứa hẹn nhưng lo sợ nhiều hơn về khả năng bị lừa vào bẫy để xẻ thịt. Trường hợp ông Đinh La Thăng được kéo vào Bộ Chính trị và trao cho ghế Bí thư TP/HCM trước khi bị lôi đi xẻ thịt là thí dụ cực lớn.
08 Tháng Năm 2018
Chủ nghĩa Mác “soi rọi” đến đâu thì kinh tế ở đó tụt hậu, sản xuất không phát triển được vì động lực thúc đẩy sản xuất bị triệt tiêu bởi chính sách làm ăn chung, triệt tiêu kinh tế tư bản tư doanh, công hữu hóa tư liệu sản xuất. Nhiều quốc gia lâm vào cảnh đói kém, nhất là các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên. Theo Wikipedia, giai đoạn 1958 - 1962 Trung Quốc có khoảng 15 đến 45 triệu người chết đói. Nạn đói ở Bắc Triều Tiên trong thập niên 1990 đã làm chết khoảng 240.000 tới 3.500.000 người mà đỉnh cao là năm 1997.
05 Tháng Năm 2018
...trong bữa tiệc chiêu đãi sau Thượng đỉnh Liên Triều, cái bánh kem mang tên ‘mùa xuân của nhân dân', cái bánh có bản đồ nước Triều Tiên với đầy đủ các hòn đảo đang tranh chấp cùng Nhật. Chưa chính thức hòa bình nối kết hai miền mà đã nhắc nhau rằng gìn giữ lãnh thổ ông cha, cái đó là cái hơn hẳn Hồ lẫn bọn Ba Đình.
04 Tháng Năm 2018
Thử nhìn xem, lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ nghĩ đến việc lật đổ Việt Nam Cộng Hòa bằng mọi giá, nhưng họ hoàn toàn không có ý niệm hay dự án nào để xây dựng lại Việt Nam sau khi thống nhất! Chỉ toàn là những ước mơ viễn vông, ảo tưởng về thiên đường cộng sản, vậy thôi!!! Còn phần lớn người Việt, trong lẫn ngoài nước, hình như vẫn chưa đọc tác phẩm nào hay phần trích đoạn nào của các triết gia chính trị của thời kỳ Phục Hưng cho đến nay. Họ coi các giá trị tự do, dân chủ và nhân quyền như là khẩu hiệu hơn triết lý, như là phương tiện hơn mục tiêu sau cùng.
02 Tháng Năm 2018
Tháng Tư lại về! Một thực tế đáng buồn, bên quê nhà các bạn trẻ đấu tranh như phải tạm lắng vì những bản án khắc nghiệt của lũ bán nước, khiến bóng đêm trùm lấy đất nước như nặng hơn, trong khi giặc tầu tràn lan khắp nơi, giặc đỏ thì mặc sức vơ vét mang của ra xứ người. Nơi mảnh đất tạm dung này, đám vô loài cùng lũ cỏ đuôi chó thấy chủ chúng sang, ồn ào như bầy nhặng, lòng kẻ tha hương trước cảnh đó mấy ai không đau?
02 Tháng Năm 2018
“Quốc gia suy vong, thất phu hữu trách”, có lẽ đây là câu nói mà ai cũng có thể đã nghe thấy hoặc đọc được đâu đó trong đời sống về trách nhiệm của một kẻ bình dân, ít học trước tình cảnh nguy ngập của đất nước. Đến một người không phải là người được học hành hay có học vấn, thành phần mà người ta vẫn thường cho rằng là những lớp người dưới của xã hội, cũng nhận lấy sự liên đới của bản thân về bổn phận của mình đối với dân tộc và xã tắc.